Tuesday, May 22, 2018

ONE OF THE BEST ACTORS OF OUR TIME: CHRISTOPHER WALKEN

An expert at playing dark characters, weirdows, and villains, he wins your heart (at least mine) in a memorable comic role in The Maiden Heist. A terrific dancer.  The suicidal Vietnam soldier in The Deer Hunter, which won him an Oscar so early in his career.  Leading man and a potential witness in the untimely death of Hollywood beauty Natalie Wood.

FABULOUS DANCER:     

https://www.youtube.com/watch?v=HJJzyvYX7k8


FOR VIET READERS: Đêm Có Nắng và Cành Hoa Chợt Tím: Tâm Sự Người Thi Sĩ Già Ngã Gục Bên Đường Mang Tên TCS ở Huế...


Đã đến lúc giã từ tên với tuổi
Đ́óng băng luôn ng̣ọn lửa cuả Tiên Rồng
Nhìn chung quanh rác rưởi ngập trời Đông 
Lấp cưả biển tơi bời bao cá chết

Đã đến lúc mù loà trong  mắt biếc
Vì tim người đã cạn hết lòng nhân
Trên trời cao…Phật Chuá cũng bâng khuâng
Đặt dấu hỏi: biết bao giờ…giác ngộ

Ở đâu đó, đau vùi trong gác trọ
Rổ̀i lê chân xuống phố, gục bên bờ̉   
Ngước mặt nhìn, môi mấp máy bài thơ: 
“Đêm có nắng, và cành hoa chợt tím…”

THE METAMORPHOSIS OF THE NIGHT AND ITS FLOWER









Monday, May 21, 2018

TIEU CHUAN PHE BINH SACH


QH: Việc phân loại sách quan trọng như thế nào trong chu trình phân tích và phê bình, thưa chị?

DNN: Quan trọng lắm, vì việc phân loại khẳng định tiêu chuẩn đánh giá của người đọc cũng như của nhà phê bình. Thí dụ: khi tác giả đã khẳng định một cuốn sách là tiểu thuyết, thì phân tích và phê bình phải đi vào giá trị của nghệ thuật và sáng tạo, thay vì quay quắt về vấn đề các dữ kiện đời sống và lịch sử “đúng” hay “sai,” “đầy đủ” hay “thiếu sót,” “công bằng” hay “thiên vị,” như khi đánh giá sách “phi tiểu thuyết” (non-fiction) nhất là về lịch sử hay chính trị. Điều tối kỵ là bóc vỏ “tiểu thuyết” để công kích tác giả, cho rằng tác giả là nhân vật. Nếu chuyện này xảy ra, gây hoang mang cho độc giả về ranh giới giữa đời sống và tiểu thuyết, thì đó là hành vi thiếu lương thiện mà giới phê bình đứng đắn của một xã hội văn minh ngày nay không thể bước vào.

Trái lại, khi một cuốn sách rõ ràng là dạng hồi ký, nghiên cứu, hay “phóng sự,” thì giá trị phải đặt theo tính chất công bằng, tính chất đầy đủ của việc nghiên cứu, sự đóng góp vào việc ghi chép lịch sử, hoặc dựa trên tiêu chuẩn trung thực và nghiêm túc: dữ kiện có xác đáng, dựa trên nguồn chính xoác và uy tín, cuốn sách có trình bày nhiều quan điểm khác nhau của một vấn đề dựa trên những nguồn nầy, hoặc trên căn bản luận lý, qua con mắt nhà báo hay người ghi chép chịu trách nhiệm trước độc giả và lịch sử trong công cuộc đi tìm sự thật.

Nếu là tác phẩm nghiên cứu xã hội theo khoa học nhân văn, thì còn phảui định giá việc phân tích dữ liệu, diễn giải thống kê, vân vân, theo quy chế của khoa học thực nghiệm (gọi là phương pháp nghiên cứu định tính (quantitative), thay vì định lượng (qualitative).

Khi một tác phẩm không phải là văn chương sáng tạo, được dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng (qualitative), thí dụ như thu góp và phân tích dữ kiện lịch sử và xã hội, thì giá trị sẽ phải nằm ở tính cách đầy đủ của tác phẩm. Thí dụ: công cuộc phỏng vấn để lấy dữ kiện: phỏng vấn những ai, có tiêu biểu trong mệnh để muốn nói hay không, hỏi những câu gì, cách đặt câu hỏi, vân vân, cũng như kết luận của tác giả dựa trên các dữ kiện đã nêu ra. Nếu có nhắc đến lịch sử, thì phải kê khai nguồn, và càng nhiều nguồn nói lên nhiều quan niệm khác nhau thì càng tốt cho tính cách phân tích và lý luận của tác giả.

Một thí dụ khác: khi phê bình hay viết sách, nếu chỉ đưa nguồn ra cho thật nhiều đề “lòe” người đọc, không có nghĩa là công việc nghiên cứu hay phê bình có tính cách chân chính, vì “nguồn” có thể bịa đặt, hoàn toàn sai lầm, “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia,” hoặc bóp méo, và như thế là lường gạt độc giả, nhất là khi độc giả không có thì giờ hay chuyên môn để tìm hiểu các “nguồn” này. Từ cái gọi là phê bình và dẫn chứng, đi đến “xuyên tạc” và “công kích” bất lương để triệt hạ một tiếng nói, rất dễ dàng xảy ra, nhất là trong một quần chúng ít kiến thức chuyên môn và có tâm lý giao động vì ảnh hưởng bởi những biến chuyển của lịch sử ngoài tầm tay của họ.

Riêng về bộ môn triết lý (philosophy), ở đại học Mỹ, hoàn toàn không cho người viết được kê khai nguồn, mà chỉ có thể đặt lên giấy trắng mực đen những tư tưởng “gốc” của chính mình, dựa trên lý luận và sáng tạo.

Dù là loại sách gì chăng nữa, thì việc đi tìm chủ đích của tác giả và vấn để trách nhiệm đạo đức của ngòi bút tác giả là tối quan trọng trong vấn để phân tích và phê bình sách. Trách nhiệm ngòi bút của nhà phê bình vì thế còn quan trọng hơn cả tác giả, vì nhà phê bình, nếu có lương tâm và có chỗ đứng trong thế giới sách vở, là người đã tự đứng ra nhận lãnh nhiệm vụ hướng dẫn quần chúng.

QH: : Đi qua lãnh vực báo chí một cách rõ rệt hơn, nếu một nhà báo viết sách, thì theo chị tiêu chuẩn phê bình phải như thế nào?

DNN: Tiêu chuẩn viết báo về “tin” (news) đặt trọng tâm ở sự dễ hiểu (viết cho độc giả chỉ ở mức tốt nghiệp trung học), trung thực với mục đích loan tin cho quần chúng mà thôi. Nếu viết báo ở một lãnh vực chuyên môn (tiếng của giới báo chí ở Mỹ gọi là “beat”), thì nhà báo có thể đi vào địa hạt phân tích và nhắm vào quần chúng có trình độ cao hơn mức tốt nghiệp trung học. Như vậy, nói chung tiêu chuẩn viết cho nhà báo luôn luôn phải đặt ở sự trung thực và đầy đủ. Điều này có nghĩa rằng nhà báo phải phỏng vấn và tìm tòi tài liệu nghiên cứu ở nhiều mặt khác nhau, và phải trình bày vấn để ở nhiều khía cạnh chứ không phải chỉ một chiều.

Trên thực tế, nhà báo khi viết và phân tích thế nào cũng đem định kiến của mình vào tác phẩm. Điều này chúng ta, cộng đông người Việt hải ngoại, đã thấy rõ ràng trong việc các nhà báo Tây Phuơng tường trình chiến tranh Việt Nam. Nhan nhãn những nhà báo phục vụ cho các xu hướng chính trị, hay đi tìm danh trong nghề nghiệp của mình. Nhưng cũng đã có những nhà báo hy sinh cả tính mạng vì nhiệm vụ cao quý của người tường thuật.

Vì vậy, khi tường thuật, nghiên cứu, và nhận định, càng ít định kiến chừng nào thì tác phẩm của nhà báo càng có giá trị chừng ấy, vì nhà báo đã làm nhiệm vụ “thông tin” của mình, đi ngược lại định kiến của mình, thay vì tìm cách ảnh hưởng đến dư luận qua khung kính đầy định kiến của cá nhân mình. Vì nhà báo cũng là con người mà thôi, và con người có thể nhầm lẫn, định kiến, người đọc và nhà phê bình cần phải làm việc nhận định gắt gao vì chỗ đứng quan trọng của báo chí trong một xã hội dân chủ.

QH: Như vậy tiếng nói của nhà báo có thể là tiếng nói của dân gian không, thưa chị? Chẳng khác chi lịch sử viết bằng dân gian, như trường hợp ca dao tục ngữ của Việt Nam mình…

DNN: Điều này rất “khả thi” nhất là khi tiếng nói của nhà báo đi ngược lại đường hướng của chính sách, trong một xã hội kém dân chủ. Các nhà độc tài luôn luôn tìm cách tiêu diệt trí thức và nhà báo, hoặc biến họ thành những công cụ phục vụ cho chính sách. Tôi dùng chữ "chính sách" để dịch từ “policy” , không có nghĩa là sách lược nhất thiết phải chân chính. Chữ "chính" trong "chính sách" ở đây có nghĩa là sách lược được công bố, được thi hành theo giáo điều (formalized, official).

Trong một xã hội như vậy, thì tác phẩm tường thuật của nhà báo, nếu đi ngược lại chính sách, có thể trở thành một phần tử của dân gian ghi lại những dữ kiện lịch sử và ảnh hưởng của các dữ kiện đó trên con người. Nếu không là sự ghi chép đến từ quan niệm của dân, (một hình thức ghi lại lịch sử truyền khẩu), thì tác phẩm của nhà báo vẫn là một tài liệu nghiên cứu, trong đó giá trị phải đặt trên tính trung thực, khả năng tìm tòi, sắp đặt, sự công bằng và cách kể chuyện từ mọi phía của người viết.

Nếu nhà báo là công cụ của thế lực, thì tác phẩm không còn là tác phẩm của nhà báo nữa, mà là tác phẩm của thế lực. Tuy nhiên, những độc giả muốn hiểu thế lực, thì vẫn phải đọc tác phẩm ấy như thường. Đọc như giáo điều thì không, nhưng đọc để tìm hiểu, thì vẫn nên đọc.

Làm thế nào để biết tác phẩm là của nhà báo, phản ánh tiếng nói của dân gian, hay là của thế lực? Đó là nhận định của mỗi độc giả. Sự ca tụng quá đáng, hay chửi rủa thậm tệ, đều có tác dụng tâm lý trên quần chúng, làm chính trị hoá sự việc (politicized), đi đến mục đích bóp méo việc đi tìm sự thật mà chính độc giả phải tự nhận định lấy, từ chỗ đứng và tầm nhìn của mình.

Công việc đi tìm sự thật, dựa trên tính tương đối của sự thật cũng như sự hiển nhiên của dữ kiện, phân biệt hẳn ra khỏi tuyên truyền hay định kiến, chính là công tác trường kỳ khó khăn nhất trong lịch sử nhân loại. [in đậm bởi Quê Hương]

QH: Như thế thì, riêng trong bộ môn tiểu thuyết, trách nhiệm của tiểu thuyết gia là gì, thưa chị? Vì tiểu thuyết là giả tưởng, điều đó có nghĩa rằng tác giả muốn viết gì thì viết hay không?

DNN: Dĩ nhiên là không. Đánh giá tiểu thuyết không thể nằm trong phạm vi “chân chất” được (tôi dịch chữ “literal.”) Tác phẩm là “literary” (văn chương), không phải là một bài tường thuật có tính cách “chân chất” (literal). Thí dụ: nhận định sau đây: “Ủa, tác giả mô tả nhân vật ăn kẹo chocolat. Tôi muốn biết kẹo đó hiệu gì để tôi cũng đi mua. Tác giả không nêu lên nhãn hiệu của kẹo chocolat, làm tôi thất vọng, và như thế là tác giả viết dở hay không đúng sự thật?” Đó là thí dụ của sự “chân chất”. Từ “chân chất” đi đến ngô nghê hay ngớ ngẩn. Phê bình văn chương kiểu đó là xuyên tạc và thiếu lương thiện, rất có hại khi được phổ biến cho quần chúng không chú tâm đến bộ môn nghệ thuật, và chưa hề đọc tiểu thuyết.

Vì giá trị của tiểu thuyết nằm ở cách kể truyện, tiểu thuyết gia phải tạo cho độc giả cảm tưởng và xúc động. Ngay cả tiểu thuyết khoa học giả tưởng hay truyện ma quái cũng phải có tác dụng làm độc giả bước vào thế giới huyền ảo mà tưởng như rằng minh đang có mặt trong truyện, nhu thể là truyện có thật. Trong thế giới của văn chương sáng tạo hay nghệ thuật trình diễn, người Mỹ gọi cảm tưởng này là “suspended disbelief”: độc giả và người xem hoàn toàn tin tưởng vào câu truyện, đến nổi tất cả những nghi ngờ đều “ngưng đọng” lại. Chỉ khi nào đạt được và đem đến cảm tưởng say mê, đến nỗi “tất cả những nghi ngờ về một thế giới không có thực đã bị ngưng đọng lại” trong trái tim và đầu óc người xem (ý nghĩa cụm từ “suspended disbelief”), thì lúc đó nghệ thuật tiểu thuyết và nghệ thuật trình diễn mới được gọi là thành công.

Nói khác đi, người xem bị cuốn hút vào thế giới của tiểu thuyết và tưởng rằng thế giới đó có thực, đến nổi bị ảnh hưởng về mệnh đề của tiểu thuyết, tin theo tác giả, bị thuyết phục bởi tác giả để khóc cười theo tác giả bằng cách sống dưới da những nhân vật, thì đó mới đúng là một cuốn tiểu thuyết hay. Tiểu thuyết tuyệt tác thường có mệnh đề, và phải phản ảnh đời sống đầy đủ và trung thực, dù rằng cụ Nguyễn Du rất khiêm nhường nói lên, “..Mua vui chỉ được một vài trống canh…” Nếu không có giá trị mệnh đề, thì người ta không dùng chữ “tiểu thuyết,” nghĩa đen là “A little essay,” để mô tả bộ môn nghệ thuật này. Do đó, tiểu thuyết cũng phải dựa trên nghiên cứu, biện luận, nhưng tất cả đều phải qua nhân vật và cốt truyện. Sự tạo dựng nhân vật, vì thế, vô cùng quan trọng trong nghệ thuật tiểu thuyết.

Tìm cho ra mệnh đề của tiểu thuyết để phân tích chính là công việc của nhà phê bình. Trong một cuốn tiểu thuyết hay, tác giả không ‘đi vào’ cốt truyện thay thế nhân vật, để giảng giải công trình nghiên cứu cho độc giả, vì như thế là đã “kéo độc giả ra khỏi thế giới của ‘suspended disbelief.” Tiểu thuyết gia đem độc giả vào thế giới ảo tưởng với mục đích thức tỉnh độc giả về phương diện tri thức, tư tưởng, hoặc để cải cách xã hội y hệt như những tác phẩm nghiên cứu phi tiểu thuyết. Trong trường hợp đó, tiểu thuyết gia làm công việc của …luật sư trong nghệ thuật thuyết phục, gọi là the art of persuasion hay rhetoric. Đây là một trong những điểm chính yếu tôi nêu lên khi nghiên cứu về tương quan giữa văn chương và luật học (“law and literature movement”) tại đại học Harvard. Nhà văn viết tiểu thuyết tức là mặc áo luật sư.

Có một loại tiểu thuyết nữa, trong đó tác giả chỉ đi theo cảm hứng sáng tạo, không muốn đem vào tiểu thuyết mệnh đề nào cả. Người ta gọi đó là nghệ thuật vị nghệ thuật (“L’art pour l’art), và đã có rất nhiều bàn cãi về loại sáng tạo này ở Việt Nam, đầu thế kỷ 20. Một thí dụ: cuốn Lolita của Vladimir Nabokov, được cho là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới vì khả năng viết của nhà văn. Cho đến bây giờ, thế giới văn học vẫn chưa ngã ngũ rằng cuốn tiểu thuyết này có mục đích nghị luận, hay chỉ là một sáng tạo nghệ thuật thuần túy.

QH: Nếu có “nghị luận,” thì tại sao không nói thẳng qua sách khảo cứu hay viết biên luận như…luật sư, mà lại phải viết tiểu thuyết làm chi?

DNN: Vì tiểu thuyết gia là những nghệ sĩ sáng tác, còn các nhà khảo cứu hay luật sư thì không. Nhu cầu phục vụ xã hội đem họ lại gần với nhau mà thôi. Nói trắng ra, dạng tiểu thuyết đáp ứng như cầu giải trí cũng như nhu cầu của con người đi tìm chân thiện mỹ. Hơn thế nữa, trong buổi giao thời, dạng tiểu thuyết trốn thoát được con mắt soi bói của bạo lực và đem mệnh đề cải cách xả hội hay ghi nhận lịch sử đến cho quần chúng một cách dễ dàng hơn, không bị ‘kiểm duyệt’ gay gắt khi có tình trạng kiểm soát tự do ngôn luận.

Tại đại học Harvard, tôi dùng ngay thí dụ từ văn học sử VN để chứng minh lý do tại sao tác giả gửi gấm mệnh đề của mình qua văn chương sáng tạo, nhất là trong buổi giao thời. Tôi nhìn vào giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh và việc thay đổi quyền lực từ triều Lê chúa Trịnh, qua đến nhà Tây Sơn, rồi cuối cùng là triều Nguyễn, tiếp xúc với Tây Phương đưa đến chủ nghĩa thực dân áp dụng ở VN và hịch Cần Vương. Trong giai đoạn kéo dài, vô cùng nhiễu nhương này, khi mà người Việt giết hại lẫn nhau và triệt hạ nhân tài, đất nước trải qua bao nhiêu chiến tranh và biến chuyển, rất nhiều văn thi sĩ vào bậc nhất của VN đã ra đời và đã sáng tạo, nhiều người là những nhà cách mạng tư tưởng, nhà hiền triết, hoặc đệ nhất khoa bảng của xã hội thời ấy: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Bà Huyện Thanh Quan, rồi Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê…

Cho việc nghiên cứu, tôi đặc biệt chú trọng đến “bộ ba tác phẩm sáng tạo” (trilogy) của cổ thi VN: theo tôi, “bộ ba” này có tư tưởng phôi thai dẩn đến mệnh đề “nữ quyền,” diển tả tâm trạng và nỗi đau của phụ nữ thời cổ: Kim Vân Kiều, Cung Oán, và Chinh Phụ, phản ảnh đời sống của xã hội thời ấy. Dĩ nhiên là luận đề của tôi viết bằng tiếng Anh. Tôi gọi bộ ba tác phẩm này là “The Glass Bottle” (cái chai trong vắt). Văn chương sáng tạo chứa đựng mệnh đề xã hội giống như cái chai trong vắt: nhìn vào chỉ thấy ‘tiểu thuyết’ – cốt truyện và nhân vật—mà chẳng thấy cái chai đâu cả, vì cái chai làm bằng thủy tinh! Bức tường bằng thủy tinh ấy che chở cho mệnh đề xã hội của tiểu thuyết, độc giả muốn hiểu thế nào cũng được. Độc giả có thể không nhìn thấy hình thù cái chai, nhưng xuyên qua bức tường thủy tinh, có thể đã thấy chính mình và xã hội của mình, qua cốt truyện và nhân vật.

Thử tưởng tượng nếu truyện Kiều, Chinh Phụ và Cung Oán không phải là dạng thi văn sáng tạo, thì hậu quả của nhân vật Từ Hải, tiếng kêu than của người đàn bà từ cung cấm, và giọt lệ của người chinh phụ động chạm đến triều đình và giới quý tộc như thế nào. Về ảnh hưởng của Chinh Phụ trong thời chiến, nên nhớ: trong Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng Đạo, có câu tương tự như sau: “nếu làm náo động quân sĩ, sẽ CHÉM!” (tôi nói theo trí nhớ, xin quý vị chuyên về cổ văn kiểm lại dùm). Thử nghĩ, nỗi lòng hối tiếc của người thiếu phụ: “lúc ngoảnh lại thấy màu dương liễu, thà khuyên chàng đứng chịu tước phong…” có thể mang đến bao nhiêu “cái chém” cho binh sĩ, nếu không được che dấu dưới dạng thi văn sáng tạo qua ngòi bút của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm.

QH: Xin chị nói thêm về công trình nghiên cứu của chị, chương trình gì  thưa chị? Chị làm công trình khảo cứu này ở trường Luật?

DNN: Thưa phải…Đây là những nghiên cứu xuyên bộ môn interdisciplinary studies, Law and Literature Movement, thường có ở Post-Doctorate Fellowhip.  Trường Luật và Faculty of Arts and Sciences. Giá trị của Harvard là ở chỗ họ cho môi trường khảo cứu rất rộng rãi, cởi mở, và không hạn chế đề tài…

QH: Thưa chị, ngoài bộ ba cổ thi từ văn học sử VN, và lý thuyết “ cái chai trong vắt” của chị, công trình nghiên cứu đem lại những gì khác?

DNN: Xin lưu ý: phê bình văn ḥoc literary critique khác với điểm sách book reviews Tôi phê bình tất cả là 6 cuốn sách văn chương sáng tạo hiện đại, trong đó có 2 cuốn nói về VN:

1)The Quiet American của Graham Greene, nhà văn quốc tế chuyên về tiểu thuyết chính trị, đã tiên đoán sự thất bại của Mỹ ở Đông Dương qua cuốn tiểu thuyết này;

2)The Deep Green Sea của Robert Olen Butler, nhà văn đoạt giải Pulitzer về truyện ngắn của Mỹ, nói về người Việt di dân. Truyện dài này nói về thảm kịch của một cựu chiến binh Hoa Kỳ quay về thăm lại VN sau chiến tranh. Ông ta đã vô tình “lấy” chính đứa con gái vô thừa nhận của mình, giống như chuyện loạn luân của Oedipus trong thần thoại Hy Lạp.

3)Kiss of the Spider Woman, kịch sân khấu ‘cải cách,” của nhà văn Nam Mỹ Samuel Puig, nói về hai người đàn ông gặp nhau trong nhà tù, giai đọan cách mạng của Á Căn Đình, đã được Broadway diễn, và Hollywood làm thành phim.

4)Mrs. Bridge của Evan Connell, nói về khủng hoảng tâm lý của giới trung lưu da trắng sống ở ngoại ô, thập niên 1950s, đã được làm thành phim, tài tử Paul Newman và vợ ông ta, JoAnne Woodward, đóng vai chính.

5)Art Lover của Carole Masso, nhà văn cải cách và giáo sư văn chương của đại học Brown và Columbia, nói về nội tâm và đời sống tình dục, tình cảm của một phụ nữ phải đối diện với nguồn gốc lịch sử của bản thân mình.

6)Sau cùng là tiểu thuyết Sula của nữ văn hào Mỹ da đen, Toni Morrison (nhà văn đọat giải Putlizer của Mỹ và Nobel của thế giới về tiểu thuyết). Sula nói về cái chết của người phụ nữ da đen khi đã bỏ đi, rồi chọn quay trở về với nguồn cội của mình.

Tôi chọn 6 tác phẩm vì cảm thấy những mệnh đề của chúng có những điểm tương đồng với mệnh đề liên quan đến người di dân gốc Việt. Các bài phê bình của tôi kể trên đều dẫn chứng thuyết của Roland Barthes mà tôi cũng như một số cây viết VN lớn tuổi hơn tôi, trong và ngoài nước đã nhắc đến: theo Barthes, chu trình phê bình văn chương chính là chu trình sáng tạo của nhà phê bình. Tác giả không cần giải thích, mà nhà phê bình là người mang trách nhiệm giải thích. Trong thuyết của Barthes, nhà phê bình không phải là người đi khen tặng hay mạt sát, mà phải là người đi phân tích và tìm tới thế giới sáng tạo của tiểu thuyết, qua chính khả năng sáng tạo của mình: người đọc thấy gì trong tiểu thuyết qua những biểu tượng và tình tiết?

(co`n tie^'p)

Y NGHIA CHU HUONG TRONG TAC PHAM CUA DNN


DNN ngay hom nay, tuoi 60+

(Trong Phần Hai cuả cuộc phỏng vấn "Mạn Đàm Văn Chương với tác giả DNN," Quê Hương có hỏi tác giả DNN về những tranh cãi mè nheo do một số rất ít người VN gây ra về tiểu thuyết “Con Gái của Sông Hương” khi tiểu thuyết vưà mới xuất bản năm 2005. DNN cho biết những tranh cãi đó bắt đầu từ ý nghiã chữ Hương trong tác phẩm cuả Bà.  Bà đề nghị nhữ ng chi tiết về vấn đề tranh cãi nên trao lại cho độc giả muốn viết bài nhận định về việc tranh cãi này).  Ćo ít nhất la hai bài cuả độc giả VN nói về vấn đề này.

Dưới đây là phần trích những gì DNN đã trả lời Quê Hương về ý nghiã chữ Hương.

TRÍCH TỪ BÀI PHỎNG VẤN PHẦN HAI:

QH: Để thay đổi đề tài, và để quay lại tiểu thuyết của chị, tôi xin nhận xét, có lẽ chị yêu thích hay bị ám ảnh bởi chữ “Hương”: Chị viết tập truyện “Mùi Hương Quế” và sau đó là “Con Gái Của Sông Hương.” Chị có thể giải thích motif nầy, và xin chị phân biệt hai tác phẩm này của chị.

DNN: Tập truyện Mùi Hương Quế mang tên của một tùy bút dựa trên chuyện có thật, không phải tiểu thuyết. Tôi viết về mùi hương ngào ngạt của một khúc quế, đặt trong phòng khách nhà cha mẹ tôi ở chung cư Nguyễn Trường Tộ, Phủ Cam, Huế, thập niên 60 (cũng là nơi cư ngụ của gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc đó—TCS là hàng xóm của gia đình tôi ở Huế). Quế là tên của bà ngoại tôi. “Hương” của khúc quế trở thành cái dây nối hiện tại của tôi với quá khứ là nguồn cội Việt Nam.

Sông Hương, trái lại, là một tiểu thuyết lịch sử giả tưởng, nói lên tâm tình của phụ nữ bị trị qua cuộc chiến tranh Đông Dương và sự mất mát cũng như giải thoát hoàn cảnh sau 1975. Giải thoát không toàn vẹn, mà mất mát thì quá lớn, vì nhân vật chính, Simone, đã phải ra đi, mang theo quá khứ là hành trang, và đã trở về đối diện với cội nguồn. Dòng sông tượng trưng cho sự chuyển tiếp của định mệnh và mùi hương từ quá khứ ấy chính là sợi dây máu mủ trong kiếp lưu vong. Sông Hương là motif, tượng trưng cho tình cốt nhục, nối liền 4 thế hệ phụ nữ, không phải chỉ là dòng sông địa lý.

QH: Theo Chị, thì chữ Hương trong “sông Hương’ có nghĩa là gì?

DNN:Theo khảo cứu và nhất là khi tôi nói chuyện với một vài dân Huế gốc gác từ chùa Thiên Mụ, thì chữ “Hương” không phải chỉ là mùi hương thơm.

Tục truyền rằng Chúa Nguyễn Hoàng, trong cuộc Nam tiến, đã dừng chân ven bờ một dòng sông, nơi mà ngài nằm mộng thấy bà lão khuyên nên thắp một bó hương và đi dọc theo bờ sông (đấy cũng là nguồn gốc của việc xây cất chùa Thiên Mụ). Theo lời bà lão trong giấc mộng của Chúa Nguyễn Hoàng, thì khi nào bó hương tàn, Chúa Nguyễn nên dừng chân để đặt nền móng cho xứ sở. Và Chúa đã làm điều này. Theo những người con của Huế đã nói chuyện với tôi, thì dòng sông từ đó có tên “Hương” cũng như nhiều địa danh ở Huế bắt đầu bằng chữ “Hương” như Hương Thủy, Hương Trà, v…v… Sông Hương, trước khi được Chúa Nguyễn Hoàng khám phá, chắc chắn mang tên Chàm, không phải tên Việt. Vậy chữ “parfums” của Pháp, hay chữ “perfume” của National Geographic hay các hãng du lịch, thực ra chỉ là vấn đề dịch thuật bởi người ngoại quốc. Hương có thể là mùi thơm của thiên nhiên, hoa cỏ, mà cũng có thể là bó hương hay mùi thơm của nhang, thắp bởi Chúa Nguyễn Hoàng, hoặc là cả hai. Tôi là tác giả cuốn tiểu thuyết, không muốn gọi dòng sông quê mẹ của tôi là “perfume.” Cho nên tác phẩm mang tên Daughters of the River Huong, ( thay vì “Daughters of the Perfume River”). Tựa này do chính mẹ tôi, người Huế chính thống, đặt cho cuốn truyện.

Nói rộng hơn, thành phố Huế, Saigon, Paris, Nữu Ước và những kỷ niệm của cô bé Simone trong tiểu thuyết của tôi, từ chiếc “sập gụ” vua ban, cho đến cây mộc lan, cái tên Quế, tên Sâm, tên Huyền Phi, màn đêm phủ trên sông Hương, bóng tối ngoài khung bán nguyệt của Tử Cấm Thành, lá vàng của Paris ở St. Germain des Pres, tiếng hát nhạc cổ điển Tây Phương hay giọng hò ca Huế, chim họa mi, và ngay cả tình yêu trái cấm hay hôn nhân không tình yêu của Simone, tất cả đều là motifs. Phân tích văn chương phải đi vào những “motifs” nầy. Phân tích văn chương bắt buộc phải là phân tích biểu tượng, không thể là phân tích “chân chất,” vì literary meaning không thể là literal meaning.

Xin xem thêm:

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN. PHẦN MỘT
http://diemnhan.blogspot.com/2012/11/man-am-van-chuong-voi-duong-nhu-nguyen.html

Friday, May 4, 2018

TIÊU CHUẨN PHẨM ĐỊNH TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DNN -- PHẦN HAI

first posted vietthuc.org Thursday, May 30, 2013

MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN


thực hiện bởi QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM năm 2011.


Phần Hai cuả cuộc phỏng vấn:  

LỊCH SỬ, SỰ THẬT, VÀ TIỂU THUYẾT

TÓM TẮT PHẦN 1:
Trong Phần 1 của cuộc phỏng vấn thực hiện bởi Quê Hương VN ("QH"), Dương Như Nguyện ("DNN") nói về phân tích văn chương và phân loại tiểu thuyết.

TÓM TẮT PHẦN 2 DƯỚI ĐÂY:
Người đọc tiếng Việt đã xôn xao về một tác phẩm (không phải là tác phẩm văn chương) đã bị từ chối không cho xuất bản ở VN, nhưng lại được tung ra thị trường ở hải ngoại, gây nhiều bàn cãi trong dư luận về giá trị lịch sử: đó là cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức.  Nhân dịp này, QH tiếp tục đưa ra một đối chiếu khác, qua Phần Hai cuộc mạn đàm văn chương với Giáo Sư Dương Như Nguyện.  Bà nhắc đến cuốn tiểu thuyết "Dị Hương" nói về vua Gia Long và công chúa Ngọc Bình, được giaỉ thưởng văn học cuả VNCHXHCH, do một sĩ quan quân đội nhân dân (kẻ thắng cuộc) viết.
Tuy trọng tâm cuộc mạn đàm là thế giới của văn chương sáng tạo và nghệ thuật tiểu thuyết, DNN đã nhắc đến và nêu kết luận về tiêu chuẩn chung cho tất cả các sách bất kỳ loại nào.  Bà gọi tiêu chuẩn đó là “cái khuôn vuông tròn” để đo lường bất cứ cuốn sách nào “trong công việc đi tìm và phô bày sự thật,” cũng như “trách nhiệm của ngòi bút trước độc giả và lịch sử.”  Tiểu thuyết văn chương, cho dù là sáng tạo hư cấu, theo bà thì cũng nằm trong "cái khuôn vuông tròn" ấy mà thôi.

NÓI VỀ KHẢO CỨU CUẢ GS DNN:
Cuối thập niên 1990s, và đầu thập niên 2000s, Giáo Sư DNN đã nghiên cứu về tiêu chuẩn phân tích phê bình văn chương và nghệ thuật  sáng tạo (thuộc về chương trình “post J.D.” và nghiên cứu Law and Literature của Bà thực hiện tại đại học Harvard).
Năm 1978, khi cộng đồng người Việt ở Mỹ còn rất phôi thai, DNN tốt nghiệp báo chí hạng Tối Ưu từ đại học Nam Illinois, nơi giảng dạy của cố giáo sư ngữ học VN, Tiến Sĩ Nguyễn Đình Hòa, nguyên khoa trưởng đại học Văn Khoa Saigon, VNCH, trước 1975.  DNN phụ giảng cho giáo sư Hòa một niên khoá năm bà chỉ mới 19 tuổi.
Năm 2004, Đại Học Nam California xuất bản bài khảo cứu cuả Bà về việc đối chiếu chu trình sáng tạo giưã Luật Học và văn chương.
Trong Phần Hai của cuộc mạn đàm với Quê Hương, Bà nói về tiêu chuẩn phê bình qua cách phân loại sách, đồng thời đối chiếu văn chương sáng tạo qua dạng tiểu thuyết lịch sử.

***

TRÍCH TỪ PHẦN HAI CUẢ BÀI PHỎNG VẤN:

DNN [nói về dạng tiểu thuyết lịch sử]...Theo tôi, ở xã hội nào đi chăng nữa, tiểu thuyết là một bộ môn quốc tế. Tiểu thuyết phải là một tấm thảm dệt công phu, mà mỗi nhân vật là một nét vẽ cho tấm thảm đó, để độc giả tìm thấy bức tranh toàn bộ của tấm thảm. Tiểu thuyết không thể chỉ là một mặt phẳng hay một caí thùng để tác giả đem đổ vào đó không biết bao nhiêu thứ tạp nhạp, chỉ với mục đích gây ấn tượng cho người đọc.

Điều này không có nghĩa tiểu thuyết phải được giản dị hoá hay đi theo đường thẳng. Một trong những tiểu thuyết với văn phong, cú pháp, và cốt truyện phức tạp nhất, không đi theo đường thẳng, đồng thời gây sôi nổi nhất, là cuốn “Kinh Ác Quỷ” của một văn hào gốc Trung Á, được cho là một tiểu thuyết dã sử dựa trên nhân vật giáo chủ cuả Hồi Giáo.

QH: “Dị Hương” nói về vua Gia Long và công chúa Ngọc Bình. Đó là tiểu thuyết dã sử, cũng như “Con Gái Cuả Sông Hương” của chị viết là tiểu thuyết dã sử. Theo chị, thế nào là một tiểu thuyết lịch sử hay dã sử?

DNN: Theo tôi, có hai dạng tiểu thuyết lịch sử:

1. Dạng thứ nhất: Nhân vật tiểu thuyết là nhân vật lịch sử. Vì thế, việc xây dựng nhân vật phải chính xác theo dữ kiện lịch sử. Tuy nhiên tâm tình và tâm lý nhân vật lịch sử có thể đi theo sáng tạo của tiểu thuyết gia để đem các nhân vật lịch sử đến gần độc giả. Dị Hương là loại thứ nhất.

2. Dạng thứ hai: Các nhân vật đều là giả tưởng, nhưng được dựng lên trong bối cảnh lịch sử có thực. Việc xây dựng bối cảnh phải chính xác theo lịch sử, dù rằng nhân vật là tưởng tượng. Sông Hương của tôi là loại thứ hai.

Vì thế, tiêu chuẩn phẩm định Sông Hương so với Dị Hương khác nhau.

Bất cứ loại nào đi nữa, tôi cho rằng đạo đức của tiểu thuyết gia không cho phép nghệ sĩ sáng tạo bóp méo lịch sử, dù rằng tiểu thuyết gia có thể đặt lại câu hỏi: đâu là sự thật? Tiểu thuyết gia có thể giúp độc giả hình dung ra khung cảnh của lịch sử như một cuộn phim. Đó là nhiệm vụ của tiểu thuyết.
....
[nọ́i về cuốn tiểu thuyết Dị Hương] Là một độc giả, tôi có nhận xét sau đây về Dị Hương: Truyện được được xây dựng trên đời sống tình dục và những ham muốn trần truồng, gần như bệnh hoạn (dịch chữ perversion), từ trong vô thức nào đó của hai nhân vật lịch sử: Gia Long Hoàng đế bên cạnh Ngọc Bình Công chúa. Đọc xong tôi bị rơi vào tình trạng “hụt hẫng.” Tôi không cảm nhận được động lực [dịch chữ motivation] của nhân vật, và vì thế không đi vào thế giới của tiểu thuyết được (tác dụng lớn nhất của tiểu thuyết gia trên độc giả là làm cho độc giả sống vào khung cảnh của tiểu thuyết, như tôi đã giải nghĩa cụm từ “suspended disbelief” trước đây). Tôi cũng chẳng thấy rõ “Hương” trong Dị Hương có là biểu tượng cho tư tưởng gì không.

Nếu độc giả không thể cảm nhận được luận đề của tiểu thuyết, và nếu  truyện ngắn Dị Hương chỉ có mục đích mua vui -- diễn tả lại đời sống chăn gối và thói quen dục vọng gớm ghiếc của vua Gia Long (người thống nhất sơn hà), thì như vậy, Dị Hương có phải là một “tiểu thuyết tình dục” theo nghĩa “literary erotica” như tôi đã diễn giải trước đây? [Xin xem Phần Một của bài phỏng vấn]. Tác phẩm Ḍi Hương đem một Hoàng đế và một Hoàng hậu lịch sử ra làm nhân vật để gây “ấn tượng"?  Vậy cái gì đứng sau ấn tượng này? Đây là những câu hỏi phức tạp phải đặt ra và xem xét bởi người bình giảng.



Sương Nguyệt Minh, Quân Đội Nhân dân, VNCHXHCN, viết Dị Hương
Được Hội Nhà Văn VN trao tặng giải thưởng văn chương toàn quốc VNCHXHCN năm 2010.


Vua Gia Long: Thống nhất sơn hà –
Thế Tổ Cao Hoàng Đế: Quân vương hay ác quỷ của tiểu thuyết Dị Hương ???́́́

***

QH: Chị có thể đối chiếu  thẳng: “Sông Hương” với “Dị Hương,” khi cả hai tác phẩm đều được lồng vào “lịch sử”?

DNN: Tôi xin đối chiếu tính cách “dã sử” của Dị Hương với Sông Hương như sau:

Sông Hương là một tiểu thuyết trường thiên (dịch chữ “epic”), được dựng lên trong bối cảnh lịch sử THẾ KỶ 20). Nhân vật hư cấu, cốt truyện hư cấu, nhưng bối cảnh có thực.

Dị Hương không có tính cách “epic” của một truyện dài  trường thiên.  Dị Hương dựa trên nhân vật có thực được nêu đích danh trong lịch sử, vua Gia Long, công chuá Ngọc Bình, nhưng hành vi của nhân vật thì hư cấu.  Cốt truyện có thể là hư cấu, còn bối cảnh thì pha trộn vừa hư cấu vừa có thực. Nói tóm lại, độc giả lẫn lộn không biết cốt truyện và bối cảnh có thực hay không. Trong khi đó, tác giả Dị Hương lại chỉ tay điểm mặt hai nhân vật lịch sử có tầm tối quan trọng cuả VN: vua Gia Long (kẻ thắng cuộc tiêu diệt Tây Sơn, thống nhất san hà), và người đẹp Ngọc Bình (con gái nhà Lê đã mất ngôi, và là em gái của vợ vua Quang Trung, triều Tây Sơn, k̉ẻ thua cuộc đã bị tiêu diệt).

Trái ngược lại, Sông Hương cuả tôi không chỉ tay điểm mặt bất kỳ một nhân vật lịch sử nảo nhằm biến họ̣ thành nhân vật trong cốt truyện.  Sông Hương kể lại bối cảnh lịch sử cuả cả một thế kỷ đã đưa đến sự có mặt cuả giai cấp người Việt trung lưu tỵ nạn trên đất Mỹ.  

Nói khác đi, đọc Dị Hương, độc giả bắt buộc phải hỏi: vua Gia Long, Công Chúa Ngọc Bình có hành xử như thế hay không? Trần Huy Sán có thực hay không?  Lịch sử và tiểu thuyết có thể bị lẫn lộn. Khi đem nhân vật lịch sử ra hư cấu thêm bớt, bối cảnh thì vừa thực vừa hư, Dị Hương có thể gây hoang mang. Vấn đề gay gắt nhất trong Dị Hương là chủ đích của tác giả khi chọn lựa làm việc này. Dựng tiểu thuyết để viết lại hay thay đổi cái nhìn về lịch sử sẽ gây ra vấn đề đạo đức và trách nhiệm – tác giả nên dừng lại ở đâu để bảo vệ và tôn trọng con đường đi tìm sự thật – sứ mạng chính của nhà văn?

Khác với Dị Hương, tất cả các nhân vật của Sông Hương đều hư cấu. Lịch sử trở thành cái nền, bối cảnh cho các nhân vật giả tưởng cùng sống, cư xử và đối tác với nhau. Trong chính sử của Việt Nam, không có vị vua triều Nguyễn nào tên là Thuận Thành, mà cũng không có vương phi nào gọi là Huyền Phi. Nhân vật lịch sử độc nhất có thật là Đức Thành Thái, nhưng vua Thành Thái không phải là nhân vật Thuận Thành. Khâm Sứ Trung Kỳ thời vua Thành Thái cũng không mang tên Sylvain Foucault. Tác giả đem những nhân vật hư cấu này vào tình huống cá nhân hoàn toàn theo tưởng tượng. Chỉ có bối cảnh lịch sử là có thật để làm tăng tính chất thuần túy và rất đáng tin cho truyện mà thôi (dịch chữ “authenticity” và “credibility”). Độc giả biết như thế. Vì thế, không có việc bóp méo lịch sử.

Trong khi mô tả bối cảnh lịch sử, thì tôi --  tác giả cuả Sông Hương -- có nhắc đến các nhân vật lị́ch sử như Bà Triệu,  Nguyễn Thái Học, Hồ̉̀ Chí Minh, Albert Sarraut, v̀ì các nhân vật này nằm trong bối cảnh lịch sử cuả nước Việt Nam cổ, cận đại, và hiện đại, nhưng họ không phải là nhân vật cuả cốt truyện. Điều phân biệt này làm Sông Hương khác hẳn Dị Hương.

Câu hỏi lớn nhất:  Thế nào là một tiểu thuyết có giá trị, nhất là khi tiểu thuyết có tác dụng bóp méo lịch sử? Tiểu thuyết phải được nhận định trên giá trị văn chương và tư tưởng, nhưng không thể thay thế lịch sử.


Dương Như Nguyện, giải Học sinh Trung học Xuất sắc Toàn Quốc trao bởi Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, trước 1975.

QH: Chị nghĩ sao về lý luận của một số độc giả, cho rằng tác giả tiểu thuyết lịch sử không thể lấy nhân vật có thật đem vào tiểu thuyết, cũng không được tạo nên nhân vật hư cấu, mà phải viết giống hệt như những gì lịch sử đã ghi xuống?

DNN (cười): Nói như vậy thì đem chôn hoặc gạch xóa luôn bộ môn tiểu thuyết cho rồi.  Tiểu thuyết lịch sử có thể biến nhân  vật lị́ch sử thành nhân vật cốt truyện, hoặc xây dựng nhân vật hư cấu giộ́ng như nhân vật lịch sử, trong bối cảnh lịch sử có thật. Nhưng phả̀i có những ranh giới và sự cẩn trọng cuả người cầm bút, cho dù là tiểu thuyết gia chứ không phải là sử gia. Tiêu chuẩn chung vẫn là con đường đi tìm hay cân  nhắc lại sự thật, luôn luôn tiềm tàng trong trách nhiệm cuả người cầm bút.

Tôi xin nêu một vài thí dụ lấy từ văn học Tây Phương.

1) Thí dụ thứ nhất: Một trong những tiểu thuyết hấp dẫn nhất của thế giới là truyện “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” của văn hào Alexandre Dumas, viết năm 1844. Bối cảnh là nước Pháp năm 1625 và ba chàng ngự lâm – Athos, Porthos và Aramis, theo hầu vua Louis thứ 13. Họ khắc phục được Hồng Y Richelieu và sứ giả của ngài là Bà Quý Phái De Winter trong chiến dịch muốn làm xấu mặt hoàng gia. Độc giả thường thắc mắc xem ba chàng ngự lâm này có thật hay không, vì đức Hồng Y và Vua Louis thứ 13 thì hoàn toàn có thật, và bối cảnh thì y hệt như thật.

Cũng như nhiều tác giả viết tiểu thuyết khác, Alexandre Dumas dùng nhân vật lịch sử có thật để dựng nên tiểu thuyết. Thế nhưng, nhà văn không bóp méo những gì lịch sử đã ghi nhận về đức Hồng Y cũng như nhà vua nước Pháp. Các sử gia đều biết là 3 chàng ngự lâm không có thật, dù rằng bối cảnh lịch sử của tiểu thuyết rất đáng tin. Trong trạng huống của tiểu thuyết, thì hành động của hai nhân vật lịch sử: nhà vua và Đức Hồng Y, dĩ nhiên là sản phẩm tưởng tượng của Dumas, nhưng không trái ngược lại vớ những gì lịch sử đã ghi nhân.  Vì thế, đem nhả̀ vua và Đức Hồng Y vào tiểu thuyết  không làm cho giá trị tác phẩm của Dumas hay vấn đề lương tâm người cầm bút bị vẫn đục đi.

2) Thí dụ thứ hai: Một giáo sư Luật ở đại học Yale, Jed Rubenfeld, viết cuốn tiểu thuyết trinh thám mang tên “Diễn Giải Việc Sát Nhân” (The Interpretation of Murder), xuất bản bởi Nhà Henry Holt ở Nữu Ước.

Truyện này phân tách tâm lý kẻ sát nhân để đi truy tìm thủ phạm đã giết một phụ nữ thượng lưu ở Nữu Ước. Truyện hoàn toàn giả tưởng. Tuy nhiên, tác giả đã đem hai nhân vật có thực vào truyện: bác sĩ Sigmund Freud và đồ đệ của ông ta là lý thuyết gia Carl Jung. Hành động của Freud và Jung trong truyện trùng hợp với những chi tiết có thực ngoài đời, nhưng dĩ nhiên hành vi của hai nhân vật này trong tiểu thuyết hoàn toàn là tưởng tượng. Đây là một điển hình cho việc pha trộn sự thật và tiểu thuyết một cách vô hại, vì chính các sử gia cũng không biết từng đường đi nước bước của hai bác sĩ Freud và Jung – hai vị này đã làm những gì khi họ viếng thăm nước Mỹ ở thời điểm của cốt truyện?

3) Thí dụ thứ ba: Ảnh hưởng của nghệ thuật sáng tạo trên quần chúng, xã hội và chính trị là trường hợp cuốn tiểu thuyết nổi tiếng tôi đã nhặ́c đến: Kinh Ác Quỷ (the Satanic Verses). Nhà văn gốc Ấn Độ Salman Rushdie dựng một nhân vật giả tưởng quá giống giáo chủ Đạo Hồi. Vì thế dân Hồi Giáo đã vô cùng căm phẫn, đòi giết hoặc khủng bố nhà văn và các tiệm sách. Mới gần đây, năm 2012, sau vụ th̉ảm sát người Mỹ 9/11 bởi bàn tay khủng bố ở Nữu  Ước, lại có trường hợp tương tự về một cuốn phim cũng nói về Hồi Giáo.  Cuốn tiểu thuyết Kinh Ác Quỷ có giá trị văn chương rất cao và văn phong vô cùng khó hiểu. Còn cuốn phim gây sóng gió mới gần đây đầu thập niên 2010  có giá trị mỹ thuật và tư tưởng gì không?

Kết luận: Giá trị của tiểu thuyết lịch sử cũng như lương tâm của ngòi bút không thể đặt trên tiêu chuẩn rằng tiểu thuyết phải giống y hệt như lịch sử. Như thế thì đâu còn là nghệ thuật sáng tạo nữa! Tuy nhiên, khi đem nhân vật lịch sử ra dựng thành nhân vật chính cho tiểu thuyết, hoàn toàn giả tưởng, hay dựng một nhân vật giả tưởng mà quá trùng hợp với nhân vật lịch sử, thì người viết sẽ phải đối diện với vấn đề đạo đức của ngòi bút như tôi đã trình bày.

Giá trị văn chương phải tuỳ thuộc vào mục đích, ngụ ý, biểu tượng, chủ trương và chiều sâu tư tưởng của tác giả, cũng như cái đẹp của tác phẩm về phương diện mỹ thuật. Công cuộc phẩm định giá trị ấy là chỗ đứng cao quý, lương tâm, đạo đức và mỹ thuật tính của nhà phê bình. Theo tiêu chuẩn của Roland Barthes, thì nhà phê bình cũng là nhà sáng tạo. Đạo đức của cây viết đặt nặng trên cả hai: nhà văn sáng tạo và nhà phê bình văn chương – hai thế đứng khác nhau, cùng chung một sứ mạng như nhau. Theo tôi, đó là sứ mạng đem cái đẹp và nhân bản tính vào công cuộc đi tìm sự thật của nhân loại: đi tìm lòng cao thượng ở chốn bùn lầy, đi tìm sự hàn gắn cho tất cả mọi đổ vỡ, đi tìm hy vọng cho mọi thảm kịch, rồi gói ghém tất cả vào nghệ thuật cô đọng của ngôn ngữ, diễn tả qua lời kể truyện. Như thế, nhân vật trở thành nhân chứng. Tôi gọi việc gói ghém này là “cái khuôn vuông tròn và tính chất trọn vẹn của một tiểu thuyết văn chương!”

Còn những tác phẩm nghiên cứu hay tường thuật, theo dạng “phi tiểu thuyết” (non-fiction), thì dỉ nhiên độc giả và nhà phê bình không cần đi vào thế giới sáng tạo của văn chương. Tuy thế, tác giả cũng vẫn phải hoàn tất “cái khuôn vuông tròn” ấy, trong việc đi tìm và phô bày sự thật. Đó là trách nhiệm chung của ngòi bút trước độc giả và lịch sử! [đoạn này được in đậm bởi Quê Hương].

QH: Cảm ơn Chị, và xin hẹn độc giả một dịp khác, nói về đề tài văn chương khác.
---





Tiểu Sử Dương Như Nguyện:
• Sản phẩm trung học của VNCH; giải thưởng danh dự văn chương phụ nữ VNCH Lễ Hai Bà Trưng 1975.
• Thành danh ở Mỹ;
• Thập niên 79-80 (lứa tuổi đôi mươi): học báo chí và luật.
• Thập niên 1990s-2000s (lứa tuổi 40-50): Xuất bản Mùi Hương Quế ̣(NXB Văn Nghệ, California); Chín Chuữ Cuả Nàng ̣-- NXB Văn Mới, California; Daughters of the River Huong; Mimi and her Mirror; Postcard from Nam (AmazonEncore/Lake Union): giải thưởng International Book Awards, loại tiểu thuyết đa văn hóa (Los Angeles).

MAN DAM VAN CHUONG phan mot

ednesday, March 27, 2013


AN INTERVIEW OF DUONG NHU-NGUYEN ON MODERN VIETNAMESE LITERATURE AND THE ART OF LITERARY CRITIQUE, PART ONE: DISTINGUISHING FEMINIST THEMATIC FICTION FROM LITERARY EROTICA


MẠN ĐÀM VĂN CHƯƠNG VỚI DƯƠNG NHƯ NGUYỆN

SOURCE: diemnhan.blogspot.com
https://docs.google.com/file/d/1ImrKAq1YwoiR3jdAQU9G8lmUfFe8YB3Y4fhIek22FsIhsB6ivuCC5k-huaKG/edit
Lời chú thích của Quê Hương. Blog Điểm Nhấn (QH.):
Nhân dịp thế giới bàn cãi giải thưởng Nobel văn chương 2012, ở khuôn khổ hạn hẹp hơn, thiển nghĩ nên có một cuộc nói chuyện về vấn đề cơ bản: thế nào là phân tích và diễn đạt giá trị văn chương, dùng các tác phẩm viết bởi người Việt. Nhà văn Dương Như Nguyện (DNN), tức luật sư, giáo sư Wendy Duong, là người độc nhất trong cộng đồng người Việt hải ngoại trực tiếp viết song ngữ: Việt và Anh. Năm 1999, Bà làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (Post-JD) về phân tích văn chương và luật học tại đại học Harvard (Law and Literature). Cùng năm ấy, Bà đến với cộng đồng người Việt với tập truyện «Mùi Hương Quế» do Văn Nghệ Xuất Bản, gây sôi nổi trong thời điểm đó. Năm 2005, tiểu thuyết tiếng Anh của Bà, «Con Gái của Sông Hương,» ra đời.  Gần đây, hai cuốn tiểu thuyết kế tiếp, «Mimi and her Mirror và Postcards from Nam,» được một công ty truyền thông ở Los Angeles chọn là tiểu thuyết đa văn hóa hay nhất trong số sách thế giới duyệt bởi công ty này cho năm 2012 (International Book Awards).
Bài phỏng vấn này được chia làm hai phần, nói về vấn đề phân loại, bình luận và bình giảng tiểu thuyết. DNN không những chỉ đặt vấn đề vào tiểu thuyết của Bà, mà còn bàn luận về hai tác phẩm từ Việt Nam: Bóng Đè (gây sôi nổi) và Dị Hương (được giải thưởng của VNCHXHCN).

Phần Một


VĂN CHƯƠNG MUA VUI HAY VĂN CHƯƠNG LUẬN ĐỂ?

Từ Hồ Xuân Hương đến Anais Nin: Ma Ri Sến và Mùi Hương Quế



Hồ Xuân Hương (1772-1822)

Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Ne'm tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi…



Anaïs Nin ( 1903- Jan 14, 1977 Los Angeles, CA)



Được công nhận ở Mỹ là tiểu thuyết văn chương dù với mục đích mua vui.
« …vì nàng quá thông minh, và đàn bà thông minh pha lẫn văn chương, thi phú và tình yêu, đã làm chàng trở thành như bán thân bất toại…
…Tôi tự biết , qua bao nhiêu thế kỷ, chỉ có một loại văn chương này – loại văn chương do đàn ông viết...Và vì thế, tôi quyết định xuất bản, làm cái công việc bắt đầu của một phụ nữ trong lãnh thổ đàn ông…»

ANAIS NIN

Phạm Thị Hoài. Tác giả Marie Sến

“Người đàn bà tên là Sến. Sến xưng em với chúng tôi sáu thằng đàn ông. Chắc chắn Sến cũng xưng em với sa'u trăm ngàn thàng đàn ông ở Hà Nội.

Sáu thằng đàn ông là Đoài, Đủ, Hồng, Thân, Tân và Nguyên.
Đoài, hàng xóm sát vách tôi, gọi Sến là nàng. Là loại người mỗi ngày ba lần đánh răng, khi anh chàng khà từng tràng từng tràng nàng nàng nàng là Sến bay ra từ khoảng trống rộng rãi của âm “a” kéo dài hoan hỉ, đượm mùi hoá chất nội địa, hiệu PS, giữa mười sáu chiếc răng trên và mười sáu chiếc răng dưới. …”
PHẠM THỊ HOÀI


Dương Như Nguyện, thập niên 90 và sự ra đời của MÙI HƯƠNG QUẾ


…Tôi mường tượng tiếng roi đi trong không khí nghe vun vút như tiếng xé lụa trong điển tích Trung Hoa…Giữa nhịp roi, tôi nghe tiếng Thịnh gọi “Mỵ Nương Mỵ Nương…” 
Tôi kêu khẽ, “Thịnh ơi,” nhưng tiếng kêu không thóat khỏi thanh quản. Ở đâu đó vang vọng tiếng hát lảnh lót, tiếng hát tôi đã quen từ ngày thơ ấu, “Đêm năm xưa, khi cung đàn gây mơ, hoa lá quên giờ tàn, mây trắng bay tìm đàn, hồn người thổn thức trong phòng loan…” Trong không gian u tối, tôi thấy một điểm sáng di động. Tôi rướn người lên một lần cuối và hình như dây trói bật tung…
Tôi đi theo điểm sáng, đi theo tiếng hát, nương theo LỐI VỀ, NGÕ THOÁT, HAY NGÕ CHẾT. Có tiếng réo gọi mơ hồ, “Mỵ Nương, Mỵ Nương…” 
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN 
***
Quê Hương (QH): Chào Chị Như-Nguyện. Kỳ phỏng vấn của Báo Ngày Nay Houston năm 2011, Chị nhắc đến phê bình văn học và nghệ thuật tiểu thuyết. Theo Chị, nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam bắt đầu như thế nào ? 

Dương Như Nguyện (DNN): Đây là cả vấn đề văn học sử. Tóm tắt rất ngắn: theo tôi, có lẽ một trong những cuốn tiểu thuyết văn chương đầu tiên ở VN là Truyện Kiều của Nguyễn Du, được coi như một bài thơ tiểu thuyết bi hùng tráng, như Ulysses của Homer, nhưng cốt truyện lại lấy của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu.
Nghệ thuật tiểu thuyết tâm lý viết bằng văn xuôi thật sự đến với người Việt chúng ta từ thế giới Tây Phương qua thời Pháp thuộc.

QH: Như vậy, phê bình văn học là gì và liên đới đến vấn đề bình giảng văn chương như thế nào?

DNN: Phê bình văn học gồm hai mặt:
1) Hình thức (thí dụ, cách xử dụng các thuật pháp viết văn: cách tạo dựng nhân vật chẳng hạn);
2) Nội dung (thí dụ, tư tưởng và chiều hướng, triết lý đứng sau nhân vật và cốt truyện).
Phê bình văn học đứng đắn cần phải dựa trên chu trình bình giảng văn chương (literary interpretation). Tây Phương cho chúng ta hai lý thuyết chính về vấn đề này.
1) Thuyết cổ điển cho rằng phê bình gia phải tìm hiểu ngụ ý và mục tiêu của tác giả.

2) Thuyết hiện đại được những cây viết lớn của Tây Phương trong thế kỷ 20 cổ võ. Thí dụ, Roland Barthes cho rằng nhà phê bình cũng là nhà sáng tạo, có quyền đem cái nhìn của mình gán cho thi văn, có khi trái hẳn hay bẻ ngược ngụ ý và mục tiêu của tác giả để áp dụng tác phẩm vào những trạng huống mới, nhằm mục đích cổ võ hay khai phá một hệ thống tư tưởng nào khác không lệ thuộc vào tác giả nữa. Bài bình giảng do đó trở thành một tác phẩm sáng tạo riêng. Khi tiểu thuyết ra đời, tác giả phải «chết đi» và nhà phê bình trở thành nhà sáng tạo.

Hai lý thuyết này cũng đã được đem áp dụng vào luật học, nhất là ở địa hạt luật hiến pháp, đòi hỏi diễn giải về ngôn ngữ.

QH : Xin Chị cho thí dụ về áp dụng thuyết hiện đại. 

DNN: Trước cộng đồng người Việt, tôi đã làm hai thí dụ :
1. Thí dụ thứ nhất: Cách đây khoảng 5 năm, tôi áp dụng lý thuyết hiện đại vào việc bình giảng câu thơ cổ: « Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.»  Tôi đã bẻ ngược ý nghĩa đầu tiên của câu thơ này, nhằm mục đích xác định lại thế nào là «mỹ nhân» qua cái đẹp của trí tuệ và nhân cách trong xã hội hiện đại. Một độc giả không quen đã nhắc khéo, cho rằng tôi hiểu sai nghĩa đen của câu «người đẹp vẫn thường hay chết yểu.»   Nghĩa đen này quá rõ không cần phải nói đến nữa.

Thật ra, tôi muốn tách rời người Việt hải ngọai ra khỏi ảnh hưởng của tư tưởng cổ thi đến từ Trung Quốc, khi cần thiết. Câu hỏi chúng ta cần đặt ra là: ngày nay, “mỹ nhân” có nghĩa là gì cho phụ nữ Việt Nam, không cần phải quay về với ý nghĩa đầu tiên của câu thơ chữ Hán.

2. Thí dụ thứ hai: Tại thư viện San Jose, tôi đi xa hẳn nghĩa đen của câu «Truyện Kiều còn, nước ta còn ». Tôi muốn đặt lại câu hỏi: Tại sao người Việt không những tôn sùng Bà Trưng, mà còn tôn sùng truyện Kiều, dù rằng cô Kiều là người Tàu? Nói một cách khác, tại sao Nguyễn Du lại phải lấy hình ảnh của một người kỹ nữ Tàu để diễn tả những ẩn ức của chính mình và tại sao Truyện Kiều trở thành «vưu vật của đất nước»?  Lý do có hoàn toàn nằm ở giá trị ngôn ngữ của truyện Kiều hay không? Tôi nghĩ là không.
Theo tôi, nếu bà Trưng là hình ảnh nữ anh hùng dựng nước (nation-building) được tôn sùng, thì cô Kiều và truyện Kiều tượng trưng cho chỗ đứng của nghệ sĩ sáng tạo (the literary art) trong việc giữ gìn văn hóa Việt Nam.  Cả hai đều được tôn sùng trong tâm thức quần chúng. Vì thế, việc cô Kiều không phải là người Việt không còn quan trọng nữa, vì cô Kiều đã trở thành biểu tượng gần gũi của văn chương sáng tạo trong lòng dân tộc Việt.
Trong chiều hướng ấy, nhà phê bình và phân tích văn chương cần phải mang vào việc diễn giải Truyện Kiều những vấn đề của xã hội ngày nay, không nhất thiết phải quay trở về với ngụ ý hay tâm tư của Nguyễn Du khi ông viết Truyện Kiều.

QH: Chị có thể cho thí dụ bằng tác phẩm của Chị: ngụ ý nào là của tác giả và ngụ ý nào là cái nhìn của độc giả Việt Nam đi ra ngoài chủ đích của nhà văn? 

DNN: Như vậy tức là tôi phải nói về tiểu thuyết của mình thay vì phải “chết đi” theo lý thuyết của Barthes.
1. Thí dụ về ngụ ý của tác giả: Tôi ngạc nhiên không có độc giả VN nào nhận ra điểm sau đây: trong cuốn tiểu thuyết “Con Gái Của Sông Hương” xuất bản năm 2005, có 3 chị em: hai co^ con gái và cậu con trai út, chẳng khác gì …”đầu lòng hai ả tố nga… Một trai con thứ rốt lòng…” Simone, cô con gái đầu lòng, hy sinh mối tình riêng để vội vã kết hôn với một người không quen biết nhằm đem gia đình qua Mỹ, nhưng rồi Simone quay trở về tìm lại cội nguồn. Đây là biểu tượng cho cái giá của kiếp di dân: tâm sự kẻ lưu đày bắt đầu bằng sự hy sinh bản ngã, cái mà tôi gọi là mặc cảm lưu lạc của Thúy Kiều trong tâm thức văn hóa của người Việt lưu vong.
2. Thí dụ về sáng tạo của độc giả: Một vài nhà phê bình VN đã nảy sinh ra những tư tưởng mà tôi chưa hề nghĩ đến. Thí dụ, họ cho rằng tất cả các nhân vật nữ của tôi trong tập truyện «Mùi Hương Quế» đều là hiện thân của một người mà thôi và người đó là tôi. Dưới cách nhìn này, MHQ có thể được xem là một cuốn tiểu thuyết, có một phần tự truyện vì dạng tùy bút được dùng trong tuyển tập. Đây là kết quả sáng tạo của nhà phê bình, ngoài dự tính của tác giả, đúng như Roland Barthes đã nhận xét. Từ lời bình giảng nầy, tôi nẩy sinh ra tư tưởng muốn viết lại cuốn MHQ thành một truyện dài, trong đó nhân vật nữ hóa thân thành nhiều kiếp, qua nhiều đời sống.Và tôi cũng đã nảy sinh ra ý nghĩ viết hồi ký – tự truyện.

QH: Xin Chị nói thêm về “Mùi Hương Quế”(MHQ). Thành hình như thế nào và có tác động gì trên độc giả Việt Nam?

DNN: Năm 40 tuổi, tôi từ Á Châu quay về Mỹ và quyết định «về hưu sớm» lần thứ nhất để viết tiểu thuyết. (Hiện giờ, tôi đang «về hưu sớm» lần thứ hai.) Tôi đưa tập truyện tiếng Việt cho cha mẹ tôi xem.Cha tôi là người biến tập truyện thành sách và làm việc trực tiếp với nhà xuất bản Văn Nghệ. MHQ là một tác phẩm tiếng Việt chỉ có người Việt đọc, dù rằng đa số các truyện trong MHQ tôi đều viết bằng song ngữ.
Tôi chưa bao giờ đứng ra tổ chức giới thiệu sách hay ký sách cho cuốn MHQ, vì tôi hoàn toàn không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Thí dụ: lúc đó cha tôi muốn tôi xin lời giới thiệu của Bác Doãn Quốc Sỹ. Tôi cũng không muốn nhọc công Bác. Tuy nhiên, có một vài nhà văn Việt Nam đã tự ý viết hoặc nhắc về MHQ, trong đó có Lê Thị Huệ, Nguyễn Xuân Hoàng và Đoàn Nhã Văn. Nguyễn Mạnh Trinh có yêu cầu một cuộc phỏng vấn viết tay rất dài, nhưng trong thời điểm đó, tôi không thể tham dự.
Từ đó đến giờ, đã có người lấy truyện ngắn từ MHQ đem đọc trên radio hay ghi âm vào băng cho cộng đồng hải ngoại, và cũng có người cũng đã lấy truyện từ MHQ đem in lại và xuất bản ở Việt Nam. Họ không hề báo cho tôi biết trước hay yêu cầu tôi chấp thuận.
MHQ tạo tiếng vang qua hai tùy bút ngắn :
1) Tùy bút «Mùi Hương Quế » được dựa trên kinh nghiệm lần đầu tiên tôi cãi trước tòa ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, trong một vụ án liên quan đến thị trường chứng khoán;
2) Tùy bút «Những Cổ Quan Tài của Tĩnh Tâm» dựa trên hình ảnh bà ngoại tôi, một phụ nữ xứ Huế.
Một số độc giả cho rằng hai tùy bút nầy nói lên tâm thức hướng về phương Đông. Các độc giả phái nữ của MHQ thường yêu thích truyện ngắn «Tình Yêu Giữa Hai Dòng» nói về hôn nhân và tình yêu dị chủng.
MHQ trở thành sôi nổi vì hai truyện ngắn khác, nói về phụ nữ trí thức di dân theo đuổi nghệ thuật: một người là diễn viên sân khấu và một người muốn làm vũ công. Truyện ngắn «Mỵ Nương» có sự căng thẳng tâm lý của nạn nhân một thảm trạng gia đình trong giới «quý tộc» của VNCH. Ở Mỹ, Mỵ Nương chọn lựa một cuộc tình có bạo lực với một người đàn ông Bắc Mỹ; thời thơ ấu ở Việt Nam, cô ta là nạn nhân của bạo hành vì cha cô – một chính khách của VNCH -- đánh đập cả 2 mẹ con. Trong «Mùa mưa Singapore » Kha Trâm là nạn nhân của một cuộc hãm hiếp, mà thủ phạm chính là tình nhân cũ, một người đàn ông Âu Châu trong cuộc tình tạm bợ. Cả hai truyện ngắn này đều được trích từ hai truyện dài tôi viết dở dang bằng tiếng Anh, vẫn còn để đó, chưa viết xong cho nên chưa xuất bản (và có thể không bao giờ xuất bản) trong dòng chính. Mỗi bản thảo khoảng trên 200 trang.Tình dục không phải là trọng tâm của bản thảo.
Tôi quyết định trích và viết lại hai truyện này thành tiếng Việt sau khi đọc cuốn «Mari-Sến» của Phạm Thị Hoài, do Lê Thị Huệ gửi. Tôi thấy bà Hoài viết quá trắng trợn và chua chát làm mất đi cái đẹp của thế giới tâm linh người nữ. Mari Sến tượng trưng cho cái gì không đẹp và tôi nghĩ rằng đây là chủ trương của bà Hoài. Rõ ràng bà Hoài là một trí thức được đào tạo bởi xã hội chủ nghĩa và phản kháng lại chính cái đã tạo ra mình. Vì thế, tôi quyết định sẽ đưa ra một thí dụ tương phản: tôi sẽ mô tả một chút liên hệ chăn gối của phụ nữ đẹp, một cách gợi cảm mà vẫn giữ được ý nghĩa luận đề của những gì tôi muốn vạch trần hay cổ võ – thí dụ, tôi dùng tâm tư của phụ nữ để nói lên những nhược điểm của một số đàn ông: bản tính chiếm đoạt, hiếu chiến và lòng tự ái, nhưng thật ra họ rất yếu đuối và dễ vỡ vì bản chất sự chiếm đọat của nam phái thiếu tính bền bỉ; đồng thời tôi muốn nói lên một số thảm kịch đuợc dấu diếm tiêu biểu cho sự giả dối của xã hội Châu Á chịu ảnh hưởng Nho Giáo, trong đó có Singapore và Việt Nam (trong trường hợp Việt Nam, có thêm những biểu tượng về việc Saigon sụp đổ và chỗ đứng của lãnh đạo hay trí thức; trong trường hợp Singapore: quốc gia nhỏ bé ấy tượng trưng cho sự thành công của tính tổng hợp các sắc dân ở Châu Á mà lại nằm trong cơ chế độc đảng).
Trước khi đưa truyện ngắn «Singapore» cho báo Thế Kỷ 21 đăng, tôi viết một lá thư cho chủ bút Phạm Phú Minh (aka Phạm Xuân Đài) và giải thích lý do vì sao tôi muốn gửi đăng truyện này. Bà PhạmThị Hoài và tác phẩm Mari Sến chính là nguyên nhân tôi muốn đưa một vài mô tả gợi cãm liên quan đến tình dục vào môi trường Việt ngữ để diễn giải luận đề qua dạng tiểu thuyết – Mỵ Nương và Kha Trâm tương phản với Mari Sến. Tôi chỉ muốn «điểm nhấn» này thôi và một số độc giả Việt Nam (kể cả thân sinh ra tôi) cũng cho rằng «điểm nhấn» này là tiếng nói của nữ quyền cho phụ nữ Việt.
Lúc đó (va` ba^y gio`), tôi vẫn không hề có dự định viết văn tie^'ng Vie^.t cho cộng đồng hải ngoại.  To^i chi? vie^'t cho bo^' me. mi`nh va` ba.n be` ma` tho^i. Tu` do', sinh ra vie^.c nha` xua^'t ba?n.
Trong MHQ, song song và tương phản với 2 truyện ngắn «xé rào» này là một truyện vừa (novella), mô tả chuyến du hành của một phụ nữ Việt di dân, đi tìm nơi sinh của Phật. Ở đọan kết, nhân vật chính mất tích trên sườn núi của Chùa Khỉ tại Nepal. Một số độc giả thích truyện này vì tôi đi vào thế giới của Phật Giáo.
Nhiều độc giả Việt Nam cho rằng tôi đã qua táo bạo và xé rách hàng rào luân lý Việt Nam vì hai nhân vật «Mỵ Nương» và «Kha Trâm» Thời điểm ra đời của MHQ là 1999; trước đó không có những mô tả về liên hệ chăn gối giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông da trắng trong khu vườn văn chương Việt của phụ nữ Việt, cho dù nhân vật của tôi là nạn nhân của 2 hình thức bạo hành khó nói nhất (domestic violence; date rape). Sau khi MHQ ra đời thì ở hải ngoại, hình như có «mode» phụ nữ Việt nam viết rất bạo về tình dục.Tôi không có gì thích thú trước tình trạng này và đã nhấn mạnh điểm này với chủ bút Phạm Phú Minh.
Nhìn lại vấn đề gây sôi nổi của MHQ, tôi rất ngạc nhiên vì 2 dữ kiện:
1) Cha mẹ tôi, học giả và giáo sư Việt Nam sinh ra trong thập niên 1930, đưa MHQ vào cộng đồng hải ngoại mà không hề lo lắng về hai truyện ngắn « xé rào » viết bởi con gái mình. Cha tôi, người đọc bản thảo và sửa bản kẽm, là một học giả thuần túy và cũng là một họa sĩ tài tử. Ông có sự thuần nhất của bản chất nghệ sĩ, không câu nệ những gì nhỏ nhặt mà chỉ nhìn vào giá trị tổng quát mà thôi.
2) Khoảng 5 năm sau, ông Thế Uyên, thuộc đại gia đình Nguyễn Tường Tam, đã liệt kê MHQ vào danh sách tiểu thuyết tình dục viết bởi phái nữ, mà không nhắc đến tính chất luận đề của tiểu thuyết, cũng như biểu tượng của các nhân vật hay trạng huống trong MHQ -- hoàn cảnh và tâm tư của phụ nữ di dân.
Tôi xin xác định: MHQ là tác phẩm luận đề, không phải là tiểu thuyết tình dục (tiếng Mỹ gọi là «literary erotica», như một số tiểu thuyết của Anais Nin, nữ văn sĩ đầu tiên viết tình dục của Mỹ -- Anais Nin sống ở Paris và là người tình của Henry Miller, tác giả cuốn “Tropic of Cancer”. Bà Nin cũng là một phụ nữ thiểu số: gốc Cuba mang quốc tịch Pháp, và đã phải học Anh Ngữ trước khi viết.)

QH: Dùng văn chương của Anais Nin làm tiêu chuẩn, thì theo Chị, thế nào là một tiểu thuyết tình dục, cái mà người Mỹ gọi là «literary erotica»? Thơ Hồ Xuân Hương, theo Chị, co' là ‘erotica’ hay không?

DNN: «Literary erotica » là những tiểu thuyết viết để mua vui, nhằm mục đích giải trí cho độc giả về phương diện tính dục, hoàn toàn không có luận đề gì cả. Tuy nhiên, vì tác giả viết rất hay, có cái đẹp thẩm mỹ và văn chương có giá trị như một tiểu thuyết đúng nghĩa, nhiều khi chuyên chở tâm lý vào tư tưởng nữa, thành ra các nhà phê bình cho đó là văn chương.  Y' nghĩa chữ «literary» trong cụm từ «literary erotica»: không phải là ngôn ngữ ô uế rẻ tiền, kiểu «lá cải» hay «khiêu dâm tục tĩu» (danh từ luật pháp là «obscenity» hay «pornography»).
Trong lịch sử văn chương thế giới, rất nhiều tiểu thuyết luận đề đã bị xếp loại là «tiểu thuyết tình dục» hay khiêu dâm, trong đó có cả tác phẩm của đại văn hào Tolstoy và nhà văn di dân Nga, Nabokov, vì các tác phẩm nầy diễn tả khát vọng cảm giác (dịch chữ «sensuality») của nhân vật dưới một hình thức nào đó, bị coi là đi ra ngoài hàng rào luân lý xã hội thời đó.
Tôi chưa hề viết hay cho xuất bản “literary erotica” bao giờ cả. Vì MHQ, một cô giáo của tôi ở trường trung học cũ so sánh tôi với Hồ Xuân Hương trong khi tôi chưa bao giờ thích thơ hai nghĩa (double entendre) của HXH. Tôi thích thơ cổ điển, trang nhã và u hoài của bà Huyện Thanh Quan hơn.
Tôi không nghĩ rằng văn chương của HXH là «literary erotica» vì tất cả các bài thơ của bà đều có luận đề quá rõ ràng và hiển nhiên - chủ đích của bà không phải là làm thơ để tạo cảm giác «mua vui» cho độc giả. Theo tôi, những bài thơ không có luận đề bị đem gắn vào tên bà thường không mang «thi phong» của HXH.  Nói về HXH, tôi chỉ thích và thán phục những câu thơ nổi lên chí khí cao của bà (thí dụ dưới đây.  Theo tôi, HXH nói về chính mình chứ không phải nói về Ông Phủ Vĩnh Tường):

Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Ne'm tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi…


Nữ văn sĩ Anais Nin, ngược lại, cố tình viết tiểu thuyết tính dục để kiếm tiền. Hình như bà ta được trả mỗi trang 1 đồng đô-la Mỹ, khoảng đầu thế kỷ 20. Văn của Anais Nin rất đẹp, tuy rằng viết để mua vui cho độc giả đàn ông. Tác phẩm khiêu dâm của Tây Phuơng viết dưới thời nữ hoàng Victoria đa số là «ẩn danh.»  Trước Anais Nin, văn chương tình dục là môi trường hoàn toàn được thống trị bởi nam giới, thiếu hẳn cái nhìn của phụ nữ. Vì thế, có nhiều người cho rằng Anais Nin là chiến sĩ cách mạng của phụ nữ khi bà tham gia vào cái «club» đàn ông chuyên viết tiểu thuyết tình dục. Tuy nhiên, nét thẩm mỹ trong văn của Anais Nin đã cho bà một chỗ đứng cao trong văn chương Anh Mỹ.

QH : Chị nói rằng không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng hải ngoại. Như vậy thì tại sao có những tác phẩm tiếng Việt xuất bản sau “Mùi Hương Quế” ?

DNN: Tôi chủ trương không ra mắt sách cho cộng đồng người Việt để có dịp bán sách cho đồng hương. Chủ trương nầy đồng nhất với quyết định nghề nghiệp: từ năm 1984, tôi chưa hề muốn mở văn phòng Luật để kiếm sống trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  (Nếu ngày nào tôi mở văn phòng luật, đó là ngày tôi muốn phục vụ, nhất là các vụ án kỳ thị chủng tộc, vi phạm nhân quyền, hay các vụ án lie^n quan đến tri thức và chuyên gia gốc Việt.)
Vì thế, tôi chỉ đi ký sách theo lời mời một vài cộng đồng địa phương; thí dụ: cộng đồng Phuợng Vĩ của trường Đồng Khánh Huế (vì mẹ tôi), cộng đồng cựu nữ sinh Trung Vương ở Washington, D.C. cho cuốn “Postcards from Nam,” và những buổi đọc sách (literary reading) theo lời mời của một số đại học và thư viện trong dòng chính.
Năm 2005, tôi nhận được cú điện thoại của chị Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn và nhà văn ở Việt Nam, nói chuyện dựng kịch cho cuốn MHQ. Tôi hiểu đó là sân khấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rồi quyết định không thể được. Tôi viết email cho chị Ngọc, và nói rằng “Chữ Trinh còn một chút nầy, Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan !…»  Lý do: tôi không muốn trở về Việt Nam để tạo tiếng tăm và chỗ đứng cho tác phẩm của mình.  Nếu tôi có dịp phục vụ cho đồng bào trong hay ngoài nước trong khả năng của mình, tôi sẽ không từ nan, nhưng nhờ vả vào khối người Việt nhất là trong nước để tạo tiếng tăm và chỗ đứng thì không.  Sự đồng nhất trong quyết định nghề nghiệp và tâm tư cho chính mình, đối với tôi, giống như chữ «trinh» của cô Kiều -- đó là tính nhất quán của tâm tư Kẻ Sĩ (mà nghệ sĩ cũng cần phải giữ), cho dù tôi không dám nhận mình là Kẻ Sĩ. (Thí dụ: với riêng tôi, Nguyễn Trãi xứng đáng là Kẻ Sĩ và tôi không giới hạn nghĩa nầy vào Khổng Học; trái lại tôi nói rộng chữ nầy với ý nghĩa của từ «Noblesse Oblige» trong tiếng Anh và Pháp.)
Chính vì cú điện thoại của chị Minh Ngọc mà tôi quyết định cho ra đời tập truyện «Chín Chữ của Nàng» để khẳng định tâm tư của tôi, bằng tiếng Việt, cho người Việt. Tâm thức quay về với nguồn cội, đối với tôi, phải là một sự cho đi (giving), một cố gắng thôi thúc bởi «Noblesse Oblige,» không thể là việc «nhận lấy» (taking) từ đám đông vì quyền lợi cá nhân.
Sau «Chín Chữ Của Nàng» là bản dịch cuốn “Sông Hương.”   Đây là món quà tôi tặng cho mẹ tôi vì bà không đọc được tiếng Anh mà không cần từ điển. Cuốn “Bưu Thiếp của Nam” có mặt cho cộng đồng người Việt vì Giáo Sư Đoàn Khoách Thanh Tâm của trường Đồng Khánh Huế cũ, có nhã ý muốn dịch cuốn sách nhỏ này để tưởng nhớ những thuyền nhân đã bỏ mình trên mặt biển, trong đó có một số cô giáo và bạn cùng lớp của tôi thời trung học ở Việt Nam. Tôi cho đó là bổn phận, hành động cho đi. (Tiền bán sách dĩ nhiên phải có để đền bù phí tổn và công trình in sách của nhà xuất bản Văn Mới.)
Cuốn “Mimi and her Mirror” không có mặt trong cộng đồng người Việt qua bản dịch tiếng Việt.  Độc giả thích hợp với nội dung của Mimi sẽ tìm đến Mimi mà thôi.

(XEM TIẾP PHẦN HAI: “LỊCH SỬ, SỰ THẬT, HAY TIỂU THUYẾT? SÔNG HƯƠNG, DỊ HƯƠNG, VÀ BÓNG ĐÈ”)