Tuesday, June 30, 2020

Tu duong Phan Thanh Gian qua duong Le Van Duyet xuong Nga Tu Bay Hien...

duong Le Van Duyet ngay xua, noi dai xuống khu cho Hoa Hung, duong To Hien Thanh di vao cu xa Si Quan Chi Hoa, roi xuong Nga Tu Bay Hien, di ngang nha tho Bac Hai...






https://www.youtube.com/watch?v=-VUSM6KhrBY



Mot video khac de ten duong la CACH MANG THANG TAM: https://www.youtube.com/watch?v=-VUSM6KhrBY&t=1516s

Monday, June 8, 2020

SUN AND MOON FROM MISS SAIGON

HERE IS MY FAVORITE STAGE LIVE PERFORMANCE, IN 2005 AFTER I HAD LOST THE ABILITY TO PROJECT MY VOICE, BUT STILL SANG (so i sounded like a child). My duet partner was perhaps the best male vocalist I have worked with, and a great pianist as well):


Saturday, June 6, 2020

tho DNN bilingual poetry VietEng

MINIMAL INSPIRATION, enamels markers and ink pen on paper, N.UND copyright 2018


Như tên một bài hát: Trưng Vương khung cưả muà thu

Đâu đấy muà thu, lịm giưã thời gian
Khung cưả trường xưa giọt nắng hanh vàng
Áo bay bay cuối trời nhung nhớ
Tóc rẽ ngôi trần, tóc chảy mênh mang

Em đứng bên naỳ trông qua đồi hoang
Dường như có gió ở trên ngàn
Môi phù dung đổi màu ly biệt
Những sợi vô hình trắc trở em mang

Em có còn mang dung nhan muà thu
Từ nay giấc mộng vướng sương mù
Trưng Vương thôi hết người  đưa đón
Từ bưã xuân về khóc tháng tư

 Bảy lăm DNN

AO DAI LAC GIUA RUNG THU, N.UND COPYRIGHT 2016,
enamels and water color on paper, with caligraphy in ink pen 

three  poe`mes en prose: Three poems in prose:

CHÀO ĐÔNG SƯƠNG, VỚI MIÊN TRƯỜ̉NG BÙI GIÁNG

Saigon mưa nắng mênh mang
Miên trường Buì Giáng, ngút ngàn Đông Sương
Tiễn nhau ở cuối con đường
Muà Đông đối mặt, miên trường ẩn sau
Trắng nguyên một mái như lau
Cây xanh cũng trắng toát màu tang thương -- dnn
Trắng như tà áo Đông Sương
Hỏi ngay Bùi Giáng, miên trường ở đâu? 

FROM A VIETNAMESE WOMAN:
I will see you off on the road of poetry


Yes I will see you off, at the end of such road where future divides and people unite, where winter spreads before our wings and eternal sleep hides behind our back. Yes I will see you off, no regret, no hesitation, no speculation. The road ends and we happily bend. Onto eternity we cough and up the mountains of Sisyphus we laugh, 'cause love is like that cough which cannot be hidden, nec amor nec tussis celatur, and sufferings are like the roar of the Gods' recalcitrance. Hail, and End. To Emily we send our moss and to Hamlet we set him free. Yes I will see you off yet to you I hold on, with spirit so sacred, with memory as disappearance and our arms as tolerance. At the end of such road we toast to Baudelaire and upon his elbows I impress my kiss and collapse upon his hips, and I will see you off for Vietnam's Bui Giang the Guru and his kindred Nguyen Du the fated poet, their six-eight verses that become the country, three hundred years before and a thousand footsteps thereafter all rushed toward the rain of fate, so humid and damp our dreams on ground yet broken, and off we go farewell my hero until the new beginning, where we the crowd or just the two of us alone shall meet...Recommencing.


July 2020 copyrighted n.und






LOTUS AT SUNSET N.UND COPYRIGHT 2020, enamels on paper with digital infusion



FROM ANCIENT VIETNAM TO 2021'S AMERICA:
THE DYING VIETNAMESE POET AND HIS LADY OF DREAM

"Tiếc thay chút nghĩa cũ càng
Dẫ́u lià ngó ý còn vương tơ lòng" 

Tiếc ai ngọc bể tơ chùng
Ngó sen khô gãy, lạnh lùng trăng treo
Có nàng vòì võĩ̉̃ trông theo
Xẻ đôi, thiếu phụ bên đèo vọng phu -- dnn
Vầng trăng nếu xẻ làm tư
Bốn câu tứ tuyệt, thiên thu đợi chờ...

Yes break the jade and cut the Koto strings, let the lotus roots dry out and the half-moon frozen, those symbols of an extinct East all meaningless now in this exiled fate, you and me or a hopeless unison of people abandoned and left to rot in our tomb of memory, once our destination to reach. Reaching where, or go back where, so let's burn it all, the book of rites, 'cause fear has settled in and our souls become our prison. Call out for Nguyen Du the ancient Vietnamese poet, once and for all and ask him where that beautiful lady of the harp was buried in his fossils of a world that's no more. You and me the readers of ancient rhymes that test our time, in America. You and me travellers who end nowhere yet still looking for traces of the broken jade, the harp without a tune, the wilting lotus roots that fail to connect, and the half-moon already lost in Galaxy's confusion. So what's the point then of calling out for Nguyen Du the dying poet and mourning his path of ambassadorship to China in hopes of leveling out the imbalance of power while the Statue of the Warrior’s Awaiting Wife no longer exists, the warrior will never return, and Nguyen Du will forever tear for his lady friend who is the dream, 'cause a lingering silk thread produced by one broken lotus root, flickering in Galaxy's confusion, is never enough to mend and bridge stars that shoot to die. Call me crazy, yet I hold on to that one scintilla of hope: one shooting star that never dies, in America.

July 2020 copyrighted n.und




HUẾ CỦA MẸ TÔI

                     
"Chiều chiều trước bên Văn Lâu…”


Huế của hôm nào, Huế ở đâu?

Một trùng dương cách, mẹ tôi sầu

Còn ai han hỏi, mình răng rứa

O nớ mô rồi, tóc kẹp sau

 

Huế của bao người, lạc những đâu?

Nhắc dòng Hương cũ, mẹ tôi sầu

Tiếng ai hò hát trên sông vắng

Như tiếng linh hồn ke? khóc nhau

 

Huế có quên người Huế thuở xưa

Một lần ly tán, mẹ tôi chờ

Xót xa kẻ ngóng đầu thôn Vỹ

Có trách, xin về khóc với thơ …


Dương Như Nguyện

copyright 1976-1995-2005

 


OUR MOTHER FROM HUE

Oh sister of America who is doing your Marilyn Monroe act in a heated swimming pool in rainy Seattle or snowy Manhattan but who was actually born in Hue, here is what I write on our mother and our birthplace:  "What a great gift to me that my beautiful mother is from Hue. She is the essence of our old and quiet imperial city. Even when Hue was bombarded with gunfires and rockets, filled with wailing sounds of survivors crying their shrieking cries for the dead, perked up with New Year’s celebration, or faded away like funerals at the finale of sunset, in my memory the city always remained stoicly quiet and humble, because quietude and humility were  Hue’s nature. Like my mother’s nature. The city spoke my mother’s soft voice to me, and the city cried its transparent tears to me like my mother cried her silenced sobs to me. Even when Hue was full of young visitors from foreign land, the city remained old like the toothless smile of a native matriarch who had lost trace of her rows of descendants. My mother was like that. She could be quiet like the smallest of sign. At times she was lost and scared and trembled like the spirit of her old suffering Hue. When she spoke, she uttered tiny words in between the shortness of breath. And then she could cry and lament her heart out, like thousands of Hue citizens crying after massacres, just as I am crying for her now. The exact same way, mother and daughter, each bearing Hue in us, isn’t that amazing? Yet, just like stoic Hue, my mother endured. Like a heroine, like history, like places that were thousands of years old on this earth, my mother endured. And her dignity, just the way she sat in her wheelchair, pensively looking at me walking around preparing her breakfast, with her slender hands yarning together on the table where her meal was set, her dignity surpassing all the aristocracy there was in the whole world. Let me remind you, before her death, she could see. But she could not speak. The brain hemorrhage had damaged her throat, her ability to swallow and speak. So she could only speak with her eyes. The pair of eyes that holds thousands of unspoken words. Her brain hemorrhage was like Hue’s two massacres, about a hundred years apart, which silenced its citizens’ ability to express in words, except those wailing cries that its citizens couldn’t help but uttering. The cries they couldn’t forget, so the eyes of Hue shone on pages of history. All those unspoken tales…

"Oh yes, before illness or during illness, our mother was the essence of ancient imperial Hue from head to toe. From here to there. From outside to inside. From close to far. From childhood to adulthood and to old age. From life to death.  Hue was in our mother, and she became Hue. And now I inherit it all. But all I can do is tearing as I type down here in make-believe Vietnam of humid winterless Texas. While you swim up there in cold America’s heated urban waves."

 



GIÃ TỪ TÊN TUỔI KHI CÀNH HOA CHỢT TÍM

 

Đã đến lúc giã từ tên với tuổi

Đ́óng băng luôn ng̣ọn lửa cuả Tiên Rồng

Nhìn chung quanh rác rưởi ngập trời Đông 

Lấp cưả biển tơi bời bao cá chết

 

Đã đến lúc mù loà trong  mắt biếc

Vì tim người đã cạn hết lòng nhân

Trên trời cao…Phật Chuá cũng bâng khuâng

Đặt dấu hỏi: biết bao giờ…giác ngộ

 

Ở đâu đó, đau vùi trong gác trọ

Rổ̀i lê chân xuống phố, gục bên bờ̉  

Ngước mặt nhìn, môi mấp máy bài thơ: 

“Đêm có nắng, và cành hoa chợt tím…”

 

Dương Như Nguyện copyrighted 2017



 

Wednesday, June 3, 2020

A Tribute to Mimi — POSTCRIPT to “Postcards from Nam,” a novella by Uyen Nicole Duong
G.B.A.Nash
December 1, 2010

Một thí dụ về nhận ̣định và phê bình tiêủ thuyết: vai trò đứng giưã tác giả và độc giả trong tiến trình truyể̀n thông cuả nghệ thuật sáng tạo, mà tôi gọi là Davidsonianism cuả môi trường triết lý ngôn ngữ.


Ba cuốn tiểu thuyết của Dương Như Nguyện [Uyen Nicole Duong] về Người Mỹ gốc Việt trong quá trình Di Dân Tỵ Nạn (THE VIETNAM TRILOGY) sẽ được xuất bản bởi Amazon Encore trong năm 2011, gồm có:

Daughters of the River Huong (tái bản)
Mimi and Her Mirror (ấn bản thứ nhất)
Postcards from Nam (ấn bản thứ nhất)

Và sau đây là phần nhận định văn chương của G.B.A. Nash về cuốn tiểu thuyết trên:

"A Tribute to Mimi — POSTCRIPT to Postcards from Nam, a novella by Uyen Nicole Duong."

Tóm tắt tiểu thuyết ngắn “Bưu Thiếp Của Nam” của DNN:  Trích từ “Bưu Thiếp Của Nam”
Đây là bản dịch Lời Nói Thêm (Postcript) đăng phần cuối của cuốn tiểu thuyết.  Lời Nói Thêm này tiêu biểu cho thể nhận định văn chương.
Original written in English By G.B. A. Nash

 Mỵ Châu, tên Mỹ là Mimi, một nữ luật sư trẻ ở Hoa Thịnh Đốn, trong nhiều năm, nhận được bưu thiếp vẽ nguệch ngoạc bằng tay từ một người bí mật. Nàng bắt đầu đi tìm tác giả của những tấm bưu thiếp đó. Cuộc hành trình đi tìm tác giả những bưu thiếp này đem Mỵ Châu về  với quá khứ tuổi thơ ở Việt Nam. Điều gì đã làm con người  bí mật nào đó gửi những tấm bưu thiếp cho Mỵ Châu mà không hề mong được nàng trả lời? Người đó là ai? Họ có biết nhau không, trong quá khứ, dù hiện tại họ không hề gặp nhau, và có thể sẽ không bao giờ gặp nhau trong tương lai?

Lời giới thiệu:  BTCN là một tiểu thuyết rất ngắn.  Trong đó có rất nhiều ẩn dụ và biểu tượng. Tất cả những ẩn dụ và biễu tượng tính văn chương này được độc giả G.B.A. Nash nhìn thấy trong tác phẩm.

 ***

I.  Con đường của một nguời viết tiểu thuyết và gánh nặng văn hóa: 
 Tôi biết Mimi từ lúc tác giả vẫn còn vật lộn với bản thảo quá dài.  Mimi được ra đời trên con đường viết văn rất cổ điển theo triết lý viết của Nhà Văn-Nhà Giáo lão luyện Robert Olen Butler.  Mimi không cần cấu trúc.  Nàng ra đời khi tác giả đã vào vô thức.  Thời buổi này, không ai viết văn như Tolstoy cả.  Chiến Tranh và Hòa Bình thời đại này sẽ không ăn khách.   Cũng không ai đọc nổi.  Đừng nói chi đến việc độc giả trong thế kỷ mới này được đo lường bởi máy computer và khả năng “click.”
 Vậy mà Mimi đã ra đời. Bưu Thiếp Của Nam đúng nghĩa là một “tiểu thuyết ngắn” dưới 100 trang đánh máy.  Cuốn sách kể lại nguyên kinh nghiệm Việt Nam:  từ đời sống trong ngõ hẻm của Sàigon thời thập niên 1960s, cho đến cá tính đặc biệt và tương phản của một đứa bé trai và một đứa bé gái thời đó, mãi cho đến cuộc đổi đời 1975, cuộc vượt biển kinh hoàng, thảm trạng của Thuyền Nhân Việt, sang đến đời sống văn minh của một nữ luật sư ở thủ đô Hoa Kỳ, hành trang của cô trở về xứ mẹ, có tất cả những xung đột của đời sống di dân người đứng ngoài không ai biết:   tất cả những phức tạp của con người trong suốt một thế kỷ.
 Câu hỏi đầu tiên tôi đặt ra là tại sao tiểu thuyết bắt đầu bằng những chi tiết tỉ mỷ về nơi Mimi sống.  Tòa nhà mang tên Parc Royale?  Có dính dáng, quan trọng gì đến cốt truyện?  Khi viết tiểu thuyết, người viết có thể làm ba việc: kể lại, mô tả hoặc diễn giải.  Cuốn tiểu thuyết này vận dụng cả ba  thể loại - Tường thuật, Mô tả, và Diễn đạt. Ông thầy viết văn Butler sẽ bảo chúng ta rằng trong nghệ thuật tiểu thuyết, đừng bao giờ thuật hay kể, mà chi nên mô tả. “Cho độc giả thấy, đừng bắt độc giả nghe giảng gỉai ” là phương châm của tiểu thuyết gia. 
  Barthes and Foucault, hai nhà nghị luận hiện đại mà không ai hiểu nổi, đã nói với chúng ta điều này (chúng ta nghĩ phiên phiến là họ nói như vậy, vì người bình thường ai mà hiểu được thực sự hai anh chàng rất “siêu” này nói cái gi???):  Theo Barthes và Foucault,  công việc  tự. diễn giải là điều cấm kỵ mà tiểu thuyết gia không bao giờ nên làm.  Vì khi tác phẩm ra đời, tác giả phải chết đi, để độc giả được sinh trưởng  (Death of the Author).
 Vậy mà, ở đây, để có được một tác phẩm ngắn hơn 100 trang, nhân vật Mimi bị tác giả cho làm việc diễn giải. Một truyện nhỏ trong một truyện lớn hơn, lồng trong một truyện đáng lý ra là tràng giang đại hải - câu truyện rất dài của người di dânViệt Nam.  Tất cả gom lại trong một tiểu thuyết rất ngắn, dưới 100 trang đánh máy.

 ***

Tòa nhà Parc Royale tối quan trọng cho nhân vật Mimi vì trên con đường đi tìm “Nam,” vì tòa nhà Parc Royale là cái “thảm” nơi độc giả đã  tìm thấy Mimi.   Ở đây, nghệ thuật mô tả đã được tác giả dùng triệt để.  Đó là một tòa nhà giả tạo, công trình của một kiến trúc sư, một hình thức ảo vọng. Tòa nhà bắt chước kiến trúc vùng biển Nam nước Pháp, miền ôn đới.  Nhưng thật ra tòa nhà nằm trong thành phố oi bức Houston xứ cao bồi Texas của khí hậu sa mạc.  Chúng ta biết ngay ở đầu tiểu thuyết rằng thế giới của Mimi giả tạo như thế đó.  Tất cả chỉ là thủ thuật bắt chước được tạo dựng bởi kiến trúc sư, trừ khoảng thời thơ ấu rất Việt Nam của Mimi.  Không có gì giả tạo ở trong đó.
 Những tấm “Bưu Thiếp” trở thành cái gạch nối giữa những khoảng đời đã vỡ, đã bị ngăn ra, để vào các hộc tủ, dấu dưới từng lớp chăn đắp (như Mimi đã cho chúng ta biết). Những mảnh đời có tính tách rời như thế làm sao có thực, cũng chẳng khác nào sự giả tạo của Parc Royale?  Các tấm “Bưu Thiếp” trở thành thực tại độc nhất, nếu thực tại có nghĩa là các mảnh đời đó có thể nối liền được với nhau.  Nhu cầu quay lại với thực tại và nối lại những mảnh đời – đây là thực tại độc nhất nằm bên cạnh cái giả tạo của Parc Royale  -- tất cả  trở thành nền cho ta mường tượng thấy trước con đường đi tìm Nam của Mimi.

 ***

Hình ảnh được mô tả tỉ mỉ (gần như  nhàm chán) của Parc Royale có thể  làm độc giả VN nhớ  đến Võ Phiến.  Tác giả cho tôi biết nbư vậy khi bà đặt dấu chấm cuối cùng vào bản thảo. Năm 1999.  Tác giả  có cố tình bắt chước Võ Phiến  không? (Về sau, tác giả thay đổi hẳn, không mô tả tỉ mỉ nữa, mà chỉ “thuật lại” con đường trốn thoát của Nam, tóm tắt như một ký giả).  Nhà Văn Võ Phiến của VN (một người mà tôi không hề biết) chỉ hiện ra khi tác giả và tôi ngồi nói chuyện.  Lúc đó tác giả không còn là người viết văn, mà là độc giả cũng như tôi.  Bà đã tìm thấy Võ Phiến khi đọc lại chương đầu của cái gì bà đã viết.
 Tôi đóan là chưa chắc tác giả đã thần tượng gì nhà văn Võ Phiến nào đó của văn chương tiếng Việt, mà bà cũng chẳng viết tiếng Anh với Võ Phiến trong đầu, vì viết tiểu thuyết đối với bà quả đúng là một hành trình vô thức.  Thứ tự kể truyện tự nhiên mà thành vậy, với Parc Royale được mô tả tỉ mỉ trong chương đầu.  Độc giả như tôi có nhiệm vụ suy nghĩ xem tại sao. Là độc giả, tôi phải dùng chất sáng tạo trong tư tưởng để gây nên chu trình diễn giải văn chương của chính mình.
 Thời tôi thì đường lối viết văn bằng vô thức của Uyen Nicole Duong khiến bà trở thành học trò bất đắc dĩ của Nhà Văn Bob Butler, cho dù bà không học lớp của Bob.  Vậy mà, trong chương 7, Uyên (DNN) đã phải cố gắng diễn giải tính phức tạp của nhân vật “Bác Diên,” thế giới của ông ta,  những động cơ của việc ông ta làm.  Đây là một chu trình diễn giải và phán xét mà tảc giả Uyên gọi là “Câu Chuyện Rashomon của Việt Nam.”  [Rashomon là câu truyện của Nhật Bản về cái chết của một người. Ai là thủ phạm, tất cả các nhân chứng, ngay cả hồn ma của nạn nhân, đều chỉ nói tốt cho mình.  Những lời khai tương phản.   Không ai biết sự thật như thế nào…]  
 Điều làm cho tôi thú vị là tác giả đi vào thế giới của “Bác Diên” hoàn toàn bằng lời đối thoại của hai nhân vật.   Tác giả vắng bóng hoàn toàn. Để cho hai nhân vật tự mô tả bằng lời nói chuyện với nhau.   Vậy thì tại sao tác giả còn phải cố tình diễn giải bằng cách cho chúng ta biết bà đã so sánh thế giới của người di dân thế hệ thứ nhất với câu truyện Rashomon?    Trong tiểu thuyết, con chim uyên tưởng tượng của Mimi đã hát bài “Rashomon, Rashomon, Rashomon” ngoài cửa sổ nhà Bác Diên?  Tại sao?
 Khi tôi phân tích những phương trình viết tiểu thuyết này (mà các nhà giáo dạy văn chương sáng tạo luôn nói tới), trong trường hợp cuốn tiểu thuyết rất ngắn của DNN/UND, tôi linh cảm  được gánh nặng văn hóa của người viết văn gốc Việt phải sống giữa hai thế giới khác nhau. Trong tất cả các tiểu thuyết gia gốc Việt, viết bằng Anh Ngữ, chỉ có Uyên đã vẫn còn lưu luyến thế giới cũ.  Vi sao thế? Tôi hỏi bà.  “Đó là vì tôi đã yêu thương và kính trọng bố mẹ của mình,” bà nói.
 Làm sao sống được giữa hai thế giới trái ngược với nhau như vậy?  Cách độc nhất là bà phải nhúng tay vào chàm – vết chàm tối kỵ của nghệ thuật tiểu thuyết:  không nên lý luận, giảng giải, mà chỉ nên mô tả.  Cho độc giả thấy bằng mắt, nghe bằng tai, cảm nhận bằng tay, bằng da, không cần thiết phải diễn giải.  Vậy mà ngay chính giữa cuốn tiểu thuyết ngắn, DNN/UND cực chẳng đã, phải cố tình diễn giải bằng cách cho con chim  Uyên ngoài cửa nhà “Bác Diên” hót lên vở kịch “Rashomon” của Việt Nam (chương sáu được tác giả đặt tên là “Rashomon—vấn đề danh dự” – a question of honor), dù rằng bà viết theo phương trình vô thức (không viết nhập; không mô hình trước, bà giải thích với tôi như vậy).

 II.   Hành trình của một họa sĩ: 
Nhân vật Nam là biểu tượng của nghệ thuật mà Uyên đã tạo nên. Nghệ thuật ấy được biểu tượng thêm bằng tình yêu không trọn vẹn giữa hai đứa trẻ con rất ngây thơ, trong ngõ hẻm rất xa xăm của Việt Nam ngày trước.  Chủ đề tình yêu con nít  đã được viết đến rất nhiều.  Cái gì khác biệt ở đây?  Chính là cái “tấm thảm” trung thực cho tình yêu ấy ngự trị lên trên:   con ngõ hẻm đông đúc của xã hội Việt nam hiền lành, khác hẳn với thế giới xa hoa mà giả tạo của Parc Royale.  Con hẻm chân thực nhất của tất cả những gì chân thực trong thế giới này, đã được Uyên mô tả lại bằng ngòi bút rất nhậy cảm của bà. 
 Ở đây, tác giả – người đã tạo dựng ra Mimi – dùng nghệ thuật ấn tượng và không còn mô tả tỉ mỷ nữa để cho chúng ta thấy con hẻm thần tiên của tuổi thơ.  Nước mưa nhiệt đới chảy dài lên làn da ngây thơ của tuổi nhỏ tắm mưa trong hẻm nghèo chẳng khác gì vỉ bánh bông lan trên đầu lưỡi của Proust. Trong con hẻm đó, có những người đàn bà ngồi chồm hổm, nước mưa trên mặt nhựa nóng hổi,  có đứa trẻ con cứng đầu vùng chạy, có bà ngoại già vẫn còn trưởng giả, có ông giáo nho nhã thư sinh lại đi làm thợ hồ, có người vợ trẻ đau lên đau xuống, có những người đàn bà mang bầu lê la, có mùi hương oi bức của đất, có ngôi mộ bỏ hoang của người khách trú, và có niềm sợ hãi bất an của Mimi.   Trong nỗi lo sợ ấy, Mimi đã tìm thấy sự yên ấm che chở của mái nhà.  Tất cả cũng nhờ ngọn gió tình yêu của Nam.
 Rất khó cho tôi phân loại Nam là nhân vật chính hay nhân vật đối tác của nhân vật chính, trong ngôn ngữ của nhà phê bình văn học – protagonist; antagonist. Tưởng cũng nên nêu ra rằng dù là nhân vật gì chăng nữa,  Nam chẳng nói gì nhiều cho chúng ta nghe trực tiếp.  Nam chỉ viết vài câu, nói vài câu, và vẽ khá nhiều. Thảm trạng xẩy ra cho anh và thế giới tâm linh của anh được mô tả qua lời nói của những nhân vật khác, như Mimi và ngư ông KiKi.  Điều này rất điển hình trong văn chương của DNN/UND: nghệ thuật, kỹ thuật, cũng như cấu trúc bằng tiềm thức. Lời nói quan trọng nhất chính là nhân vật không bao giờ nói trực tiếp với độc giả. Có thể Nam chỉ lâ “tấm ảnh trong gương” của các nhân vật khác mà thôi: cá nhân mà Ngư Ông muốn thấy, và Mimi muốn thấy.
 Tuy vậy, cuốn tiểu thuyết ngắn này là truyện kể về Nam, họa sĩ. Là một họa sĩ, Nam có những uớc muốn rất to lớn.  Anh ta muốn vẽ và gửi bưu thiếp toàn thế giới.  Đây là tham vọng cuối cùng của hệ thức toàn cầu hóa. Ôi một tham vọng to tát biết bao, nói ra thì lại rất giản dị. Bưu thiếp ở đây chính là căn cước và sở hữu của Nam, để cho Nam được bộc lộ chính mình là một họa sĩ không biên giới.  Bưu thiếp do đó  đã trở thành tiếng nói của cả một dân tộc, của cả một văn hóa quảng bá ngoài biên giới.
 Còn điều chi khác nữa?  Nam là một đứa trẻ khôn ngoan, giỏi giang, rất thông minh. Hãy nhìn những gì cậu ta đã làm:  kiếm tiền trong ngõ hẻm, tìm cách đi vào mua thức ăn xa xỉ phẩm của xã hội Saigon, gọi đó là bằng chứng của trái tim biết yêu.  Ta có thể hỏi điều này có thực hay không?  Không tin được nếu chỉ là một đứa bé trai tầm thường, nhưng Nam không phải là một cậu bé tầm thường. Đây là một cậu bé thiên tài, một thiên tài không biết mình là thiên tài, cho nên bị cô bạn gái làm phách rất coi thường  (độc giả nên nhớ rằng, Nam có thể  trở thành  một đầu bếp nấu món ăn Pháp, một tay chơi cờ bạc có hạng sẽ đánh bại các bạn ở Las Vegas bất cứ lúc nào).  Trong thời buổi tranh tối tranh sáng của một nước Việt Nam đang đổi chủ, anh ta đã di chuyển về miền cực nam của bán đảo, rồi làm thế nào để cứu đứa em trai khỏi bàn tay man rợ của một lũ quái vật…
 Vâng, ngoạn mục như vậy đó, rút cục cậu Nam của chúng ta cũng không chết.
 Cậu bé Nam đẹp hơn tất cả những cái đẹp tả được bằng ngòi bút, đến nỗi mà cậu ta đã trở thành “trân châu trên cát trắng” (chuơng 7 – Rare Pearl on White Sand) – sự sống tiềm tàng đã làm cho cậu ta thoát chết, trong mầu nhiệm của biển xanh.  Nam đã biến thành nghệ thuật.  Ở nghĩa này, tiểu thuyết đã trở thành một tác phẩm của siêu thực và của truyện kể huyền bí – surrealist drama; fantasia,  rất điển hình cho thế giới sáng tác của DNN/UND, con người viết văn mà tôi đã quen biết.  (Đọc Bóng Ma Hà Tây chẳng hạn, tiểu thuyết siêu thực và huyền bí cùng một tác giả).  Độc giả không giải phẫu tác phẩm siêu thực để coi truyện kể có thực tế hay không.  Độc giả phải nhìn tác phẩm với niềm tin tuyệt đối, tin vào Nam, và tin vào Mimi – những giá trị nhân bản mà hai nhân vật này mang đến cho chúng ta. Nam chính là “kẻ anh hùng của thảm trạng” trong ngôn ngữ của thế giới tiểu thuyết – tragic hero. 
 Đứa bé trai bé bỏng đã can đảm tuyên bố một câu hứa hẹn.  To tát như chính tham vọng của cậu.  Câu hứa đó là cậu sẽ bảo vệ Mimi suốt đời. Để trở thành người gác cửa cho kho tàng văn hóa của Mimi: cậu hứa sẽ trông coi bà ngoại trưởng giả, bà ngoại đã bị bỏ rơi và gạt phăng ra khỏi xã hội chủ nghĩa trong cuộc thay đổi chính trị ở Việt Nam.  Nói một cách ví von, Nam đã làm câu hứa  của Từ Hải, người hùng văn chương của Việt Nam (Đây là điều mà tác giả tạo ra Mimi đã kể cho tôi nghe—câu chuyện của Từ Hải, khi tác giả không còn mặc áo  nhà văn).
 Ấy thế, nhưng Nam lại là một cá nhân nhỏ bé không may mắn, trước con người, trước Thượng Đế, trước quái vật, trên biển xanh mênh mông của nàng nhân ngư Mimi, khi nàng bơi ngược dòng để tìm người yêu lý tưởng.  Nghệ thuật có tồn tại được không?  Trong câu nói ngậm ngùi của Ngư-Ông-Và Biển-Cả của Đông Nam Á, thưa vâng, vâng, nghệ thuật đã sống còn.  Nam đã sống còn.
 Nhưng rút lại,  người họa sĩ của chúng ta lại dẫy chết và Ngư Ông cũng đã phải thành thật mà cho chúng ta biết điều đó.  Trí nhớ và kỷ niệm đau thương có thể làm nghệ thuật chết dần mòn. Nam đã trở thành người chiến bại.  Thảm trạng đã nuốt chửng lấy chàng, và chàng đã đầu hàng, xuôi tay để cho thảm trạng cứ tiếp tục nhắc lại, xẩy ra, trên chính thân thể con người.  Nam đã phải thăng hoa thảm trạng bằng cách sống vì gia đình và sống trong giấc mộng dang dở về người đẹp của lòng mình, Mimi, để được thoát thân ra ngoài thảm trạng.
 Người sống còn thật sự chính là người con gái thần tượng của lòng Nam:  Mimi của chúng ta. Nàng đã phải tạo dựng lại tất cả những tấm bưu thiếp, con hẻm cũ của Saigon xưa,  trong một thế giới hỗn loạn không thể có được sự phân minh đen trắng và trong oan nghiệp của sự phán xét luân lý bởi những nhân vật của thế hệ di dân thứ nhất.  Để trở về với nguồn cội, Mimi đã phải đi gặp những con người như Bác Diên và nhà báo Đạt, những bí mật họ giữ hoặc thêu dệt trong đầu, tất cả được rỉ  tai , truyền miệng, nói xấu và công kích. Trong căn bản là tiếp tục thảm trạng của thế giới hỗn loạn như nạn nhân Đức Quốc Xã hay bãi thây ma của Cam Bốt.
 Chỉ có một cách độc nhất để đem lại chiến thắng và thành công cho cậu bé Nam, người anh hùng bi thảm của chúng ta:  Đó là việc Nam đã cứu sống đứa em trai.  Ở đây, Nam đã trở thành Sisyphus, người lăn trái núi của ý thức hệ Tây Phương.  Nam là Sisyphus cho Thuyền Nhân Việt.  Anh ta đã tạo dựng lại thảm trạng không bao giờ chấm dứt cho chính mình, với đời sống ở châu Á, vì sao?  Lời giải thích độc nhất của một nghệ sĩ tự đầy đọa chính mình là ở chỗ cậu ta đã cứu đứa em.  Tiếp là bằng chứng thành công của Nam. Tiếp cũng đã phải quên để sống.  Nam trở thành liều thuốc quen cho Tiếp.  Cũng như Mimi, Tiếp đã trở thành một di dân ổn định vì cậu đã biết quên.  Đây là chiến công lớn nhất và khó khăn nhất của Nam.  Chiến công đó đã trở thành hình phạt mà cậu đã tự làm cho chính cậu.  Ôi, thương thay con người Sisyphus của Thuyền Nhân Việt Nam.

 III.   Tình yêu và bi kịch: 
 Nhà phê bình Tây Phương có thể sẽ nói rằng tiểu thuyết ngắn này là một bi kịch kiểu Hy Lạp – Greek Tragedy.  Vậy mà, tác phẩm cũng chính là truyện kể của tình yêu lãng mạn. Tình yêu lãng mạn là cứu cánh trong môi trường hỗn loạn.  Cái vườn địa đàng của tình yêu là con hẻm đông đúc bình dân của xã hội Saigon trước ‘cộng sản giải phóng.’   Hai đứa trẻ. Một tình thân.  Rồi sau đó thảm trạng phủ lên đầu để chia ly hai trẻ, cho đến khi ở Parc Royale giả tạo, cô gái nhỏ muốn quay về.  Tình yêu, từ trong căn bản, theo lời phán quyết của các vị thần Hy Lạp, đã được tạo sẵn rồi,  tự nó đã ích kỷ và sở hữu hóa. Nam có thể xa Tiếp, cái chiến công to tát nhất của Nam, để Tiếp có thể quên, nhưng với Mimi thì không. Bắt buộc Nam phải lấy lại cho được những kỷ niệm với Mimi, cho chính mình, trước khi chàng buông xuôi.  Lời kêu gọi của tôn giáo, ở tuổi trung niên, đối với người nghệ sĩ như Nam, chính là khai tử, vì mặc dầu cậu sẽ không còn là Sysiphus lăn trái núi,  bắt đầu nơi yên bình chính là quyết định xa vắng sự nổi lửa của tình yêu. 
 Sau đó chúng ta, độc giả, hiểu rằng sẽ không còn bưu thiếp nữa.  Mimi sẽ phải tạo dựng lại đời sống của mình sau khi biết bí mật của Nam. Sự ra đời của một tiểu thuyết gia kể truyện cuộc đời của họ, tình yêu của họ, kinh nghiệm di dân của họ, là sự nổi lửa để Mimi được sinh trưởng, nhưng đồng thời cũng là cái chết yên bình của Nam. Thả cho chim uyên bay đi tức là tạo con đường sáng tạo.  Vậy mà, ở đó, chúng ta nghe thấy thoang thoảng có tiếng nói của chính tác giả qua nhân vật Mimmi về  “Thuyết Có-Không” của Phật Giáo.
 Như thế, tác giả tạo dựng ra Mimi nói với tôi: khi bà tạm bằng lòng cho dịch tựa truyện là “Bưu Thiếp CỦA Nam,” bà miễn cưỡng mà chấp nhận rằng tựa truyện nói lên sở hữu chủ:  những tấm bưu thiếp là CỦA Nam. Nam đã tạo ra chúng.  Nam đã dùng chúng làm căn cước.  Bây giờ thì không còn là tiếng nói trừu tượng của một tập thể.  Hay một nơi chốn.  Mà chính là tiếng nói CỦA Nam. Nam muốn chiếm lại kỷ niệm thời thơ ấu.  Chàng đòi hỏi quyền được Yêu – Claim to Love.   Bài Ca cho quyền Sống – Hymn to Life.  Ở nghĩa này, Nam làm sao chết được?  Nam sẽ không bao giờ chết.  Nam đã trở thành sức sống của Mimi. 
 Trước khi tuyên dương quyền được sống và được sở hữu (dùng những bưu thiếp), thì Nam là một cá nhân hòan toàn vị tha.  Tình yêu cho đi không điều kiện.  Cậu bé đã cho Mimi từ thức ăn, tuyệt hảo, cho đến sự tôn thờ thần tượng khi cô bé trình diễn đàn piano.  Sự săn sóc nàng không bao giờ hết, và lòng tôn sùng thì vô điều kiện. Cậu bé để cho cô bé được tự do.  Cô nàng chẳng bao giờ bị làm phiền cả.  Rút cục chỉ là một cậu bé thôi, ở chỗ đứng khiêm nhường, ở con hẻm không mầu mè sang trọng gì cả. Để cho Mimi được bay cao trong những tham vọng con nít về tương lai đầy hứa hẹn – cô bé sẽ trở thành một thiếu nữ quốc tế! 
 Có lý tưởng quá không? Dĩ nhiên là rất lý tưởng.  Có thực tế không? Có tin được không?  Dĩ nhiên là rất tin được.  Trong tuổi thơ hồn nhiên, tất cả lý tưởng đều có thể thực hiện được.  “Đó là Đà Lạt của một ai đó.  Huế của tôi.  Saigon của chúng tôi.  Thiên đàng đã mất của Proust.”  Tác giả tạo dựng ra Mimi giải thích với tôi như vậy.  

IV.  Điểm tối hậu của cuộc hành trình:  Sự Thật 
 Mimi là biểu tượng của việc chúng ta đi tìm sự thật.  Là một cá nhân rất lý trí, nàng đã lý trí hóa con đường đi tìm Nam, dẹp tắt đi con người lý tưởng trong chính nàng.  Tất cả những tấm bưu thiếp đó trở thành cái cầu cho nàng đi đến sự thật.  Nhưng, trong công tác đi tìm sự thật, nàng lại đi theo tiếng gọi của tình yêu – cái gì thiếu thốn trong đời sống Bắc Mỹ, che đậy bởi sự quên lãng về tuổi thơ và sự sụp đổ của Saigon. Bi kịch của chính nàng chưa được kể cho chúng ta nghe trong tiểu thuyết ngắn này nhưng tác giả đã hé mở cho chúng ta thấy một chút:  Cái gì đã làm nàng quên mất Nam là ai? 
 Nhân đây, cũng cần nói:  trong phương trình xây dựng nhân  vật Mimi, tác giả cho chúng ta thấy sự trưởng thành của cô bé gái được giới thiệu vào thế giới cơ cực của phụ nữ.  Tại sao lại tả tỉ mỉ cảnh tượng nhà thương Từ Dũ – một sản đường của Saigon, ở đó Mimi đã mường tượng thấy thế nào là sinh đẻ và chết chóc (người mẹ xẩy thai, đứa bé chưa ra đời, linh hồn của bào thai – tất cả là những vấn đề cấp bách tâm linh của xã hội Bắc Mỹ bây giờ???). 
 Chúng ta được cho thấy cái nhìn lý tưởng về tình yêu ngây thơ chính là cảnh đem Mimi vào thế giới của “đời là bể khổ,” của những người đàn bà nghèo đói của xã hội Á Châu chậm tiến.  Ở sản đường, trí tuệ của Mimi đã trở thành thế giới của đàn bà. Cô bé gái đã “đàn bà hóa.”  Là những độc giả suy luận, chúng ta thấy cảnh sản đường có thể chỉ là phương trình tả cảnh mà các tiểu thuyết gia Tây Phương gọi là “một miếng bánh của đời sống”  -- slice of life. Thế nhưng, nếu chúng ta trở thành những độc giả “nhậy cảm ngậm ngùi,” chúng ta sẽ thấy cô bé gái Mimi trong ngày hôm đó, ở sản đường, đã bị “đàn bà hóa” trong trí tuệ.  Ngây thơ đã mất đi rồi.
 Và tác giả lại cho chúng ta thấy ấn tượng ngôi mộ bỏ hoang của người khách trú:  đây là cảm nhận đầu tiên của Mimi về kiếp tha hương.  Linh hồn vất vưởng của kẻ tha hương, kiếp lữ hành sẽ tìm cách đi về quê cha đất tổ, sau khi đã chôn thân ở xứ người, trong một ngõ hẻm nào đó. Ngậm ngùi làm sao, chua xót làm sao, nỗi “đàn bà hóa” của cô bé gái, trong chỉ một ngày, và nỗi buồn “dí dỏm” về ngôi mộ hồn ma khách trú,  của buổi chiều chạng vạng tối, qua ngòi bút rất thực tế của tác giả, viết như một ký giả. 
Có cần phải bi thảm hóa gì nữa không?  Không, đó mới là nghệ thuật tiểu thuyết.  Tác giả không cần phải nói lên cho chúng ta thấy, Mimi của Bắc Mỹ, người đàn bà đã trưởng thành, có nhận ra rằng, rồi mai đây, chính cô cũng sẽ như người khách trú kia, chết và chôn ở Bắc Mỹ, xa hẳn cái ngõ hẻm xa xăm của tuổi thơ.  Đó là bổn phận của chúng ta, những độc giả xúc tích, ngậm ngùi. Chúng ta cần phải ngẫm nghĩ về hành trình vô thức của người viết tiểu thuyết.  Những ẩn dụ, tất cả cũng chỉ là hành trình của chu trình sáng tạo vô thức mà thôi.  Chẳng hạn như ý nghĩa của ngôi mộ hoang, người khách trú chôn thân xứ người,  nằm cô đơn trong con hẻm của thủ đô Saigon….
 Những nét vẽ khi ấn tượng, khi tỉ mỉ của tiểu thuyết này cho chúng ta thấy cái to tát của bản thảo lúc đầu, trước khi tiểu thuyết ngắn được ra đời.  Chúng ta hiếu kỳ về nhân vật Mimi, y hệt như Mimi đã sinh ra hiếu kỳ về những tấm bưu thiếp trên con đường đi tìm sự thật.  Con đường ấy dẫn cho Mimi đến con chim hót Rashomon về Việt Nam và thế giới di dân.  Thế giới của những nhân vật như Bác Diên và “Thằng Đạt Khốn Nạn” nào đó – Diên và Đạt, tác giả cho tôi biết, đã tạo thành hiện tượng “tự do ngôn luận” của thế giới di dân thế hệ thứ nhất – đó có phải là cái giá phải trả cho một cuộc di dân khổng lồ?
 Rồi ngoài kia, lại có thêm nhân vật David Dougherty, người đứng ngoài không nhập cuộc, tiêu biểu cho dòng chính của nước Mỹ khổng lồ.  Con người của dòng chính, con người đã làm ơn cho Mimi trên con đường đi tìm sự thật.  Ân nhân đa dụng đó, không màng tới, chỉ đoái hoài một chút thôi.  Chỉ một chút thôi.
 Cái gì tạo nên vững chãi, yên bình như chất xúc tác, như lọ keo làm dính lại những mảnh vụn? Có tiếng nói người mẹ của Mimi.  Đó là tiếng nói vỗ về, xoa dịu.  Bà giúp, bà an ủi, bà giảng nghĩa vài câu. Và bà phục hồi.  (lúc nào cũng chỉ ở trên điện thoại mà thôi).  Đây là “phương tiện” rất hữu hiệu của tác giả, người viết tiểu thuyết.  Phải có một nhân vật bà mẹ qua điện thoại, như thế ngòi bút của tác giả mới đối phó được với nỗi nhọc nhằn của văn hóa.   (Ở film ảnh Tây Phương, “phương tiện” này đôi khi thể hiện ở nhân vật “một người bạn gái” nào đó của nhân vật chính.)
 Cuối cùng chúng ta không thể bỏ qua đựoc sự chọn lựa có ý thức rất rõ ràng của tác giả.  Không có gì “tiềm thức” hay “vô thức” cả ở điểm này.  Con đường đi tìm sự thật của Mimi đem nàng đến câu chuyện Rashomon của xã hội di dân – câu chuyện kinh hoàng nhất mà con chim Uyên phải hót: khoảng trống tối đen, sự bất định, không gian tranh tối tranh sáng, không rõ rệt,  đầy ác ý.  Người nghệ sĩ và kẻ đi tìm chân lý lúc nào cũng phải cố gắng nương theo tiếng gọi vương giả ?, ở một nơi chốn có thể rất xấu xa và đầy đe doạ, nỗi nhọc nhằn mà ngòi bút di dân bắt buộc phải cưu mang.  Ngòi bút có thể mạch lạc, mà cũng có thể tắc nghẽn.  Cái giá phải trả để sống còn và để tái tạo cuộc đời, cho nghệ sĩ di dân, chính là cái  nhà tù văn hóa – the imprisonment of culture.   Điểm sáng rõ rệt độc nhất, chỉ còn là TÌNH YÊU mà thôi.  Nhưng TÌNH YÊU cũng có thể  không trọn vẹn, cho dù Nam, cậu bé, đã đứng lên đòi lại quyền sở hữu chủ của mình: cái gọi là chia xẻ, cùng chung Dĩ Vãng và Kỷ Niệm.  (Có chung Dĩ Vãng và Kỷ Niệm cũng là ý nghĩa của chữ “Đồng Hương”  -- compatriot)
 Giữa Nam và Mimi, tối thiểu một người phải sống còn.  Thật sự sống còn, trong cái toàn mỹ của Nghệ Thuật.  Đó là Mimi.
 Và vì thế bài viết này là tiếng vỗ tay cho nàng Mimi biểu tượng của tất cả chúng ta. Con người đi tìm sự toàn mỹ trong nghệ thuật. 
 A tribute to Mimi.  
G.B.A. Nash
8/2009


Nguyên tác:  

A Tribute to Mimi — POSTCRIPT to “Postcards from Nam,” a novella by Uyen Nicole Duong
G.B.A.Nash
December 1, 2010

The novelist’ s journey and the burden of cultures
I got to know Mimi when her creator was struggling with an epic manuscript that was far too long.  Mimi was born in the classic subconscious journey of novel writing that Robert Olen Butler advocates in his creative writing class. She was not planned, nor structured. She emerges as her creator submerges.  Nowadays, no one wrote like Tolstoy’s War and Peace, which, in today’s standards, would not be successful or even readable. Not to mention the fact that the attention span of readers of the 21st century is measured by the size of the computer screen and how quickly links can be clicked and browsed. 
Yet, in the end, Postcards from Nam became a novella of fewer than 100 pages double-spaced.  It is truly a novella in the count of words. Yet, it tells stories that are epic in the Vietnam experience: from lives in a small alley of pre-communist Saigon in the 1960s, to the very unique and contrasting personal characteristics of a young boy and a young girl of that era, all the way to the 1975 life-about-face, and a harsh, gruesome escape at sea, the sufferings of Vietnamese boat people, to the contemporary life of a female lawyer in the Capital City of America and her search homeward, embedding the conflicts in the lives of first-generation immigrants unknown to outsiders – all the complication of human beings spanning over a century. 
The first question I ask is why the novella begins with a very detailed description of where Mimi lives. The Parc Royale?  How is it relevant or even necessary to what we are about to see?  In novel writing, one either narrates, describes, or interprets. I suppose this speaks for the 3 fundamental methods of story-writing:  narration, description, and interpretation.  Butler, the novelist-teacher, will certainly tell us that the key to effective creative writing lies not in narration but in description. “Showing, not telling” is our motto.
Barthes and Foucault, the incomprehensible theorists that no one is supposed to understand, tell us something else (perhaps what we think they may be telling us, because they are supposed to be not so understandable):  self-interpretation is a taboo, because the author is supposed to be dead, in order for readers to be born.   
Yet, in the end, to make it all in fewer than 100 pages double-spaced, our Mimi narrated and interpreted, as she (and her world) were described by her creator.  Somehow, Mimi’s creator did all three to give us the story in fewer than 100 pages.  A story within a story within a story in the novella form. 
Parc Royale is important to Mimi in her journey to re-meet her “Nam,” such that the descriptive method has to be up for grab, because what we see at Parc Royale becomes the textual backdrop upon which we find our Mimi.  Parc Royale is the constructed work of an architect, who purposely creates an illusion.  The apartment complex is supposed to be an imitation of the South of France, yet it lies in the heart of hot and humid Houston, Texas.  We know then at the beginning of the novella that nothing in Mimi’s world has been real.  It is all an imitation of something else, very far removed from her authentic Vietnamese childhood.  The postcards become the linkage between fragments of lives that have been broken, segregated and separated, into compartments, drawers, and blanket folds (as Mimi tells us).  Nothing that is so disconnected can be real, just like the phoniness of Parc Royale. The postcards, therefore, constitute the only reality, if reality means continuation and re-connection of many pieces of life.  The need to be back in touch with that reality – the only reality against the artificial Parc Royale scenery – foreshadows our Mimi’s return to her search for Nam. 
The detailed (almost boring) intricacy of Parc Royale description may remind her Vietnamese readers of what has been seen in Vo Phien’s prose, Mimi’s creator told me after she finished the manuscript in 1999. 
Did Mimi’s creator mean to do this, to “describe” Parc Royale a la Vo Phien style? (Interestingly, later, Mimi’s creator departed completely from description, in order to “narrate” the summary of Nam’s escape all in a short-handed fashion like a journalist.) 
I venture to say No, the author did not write her English prose with Vo Phien in mind, because novel writing is all about the sub-consciousness.  The progression of story-telling just turns out that way, with Parc Royale description in detail, and it is my job to think about why, to put my own creativity into the process of interpretation and understanding.  This Vietnamese writer Vo Phien came about in our discussion because Mimi’s creator took herself off the authorship, to become the reader herself, in order to rediscover her Vo Phien.   
In my view, the subconscious approach to writing has placed Uyen Nicole Duong very much under the influence of Bob Butler’s creative discourse in his classroom, even if Uyen has never taken any of Bob’s class. Yet, very painfully, in chapter 7, Uyen strained to interpret the complexity of her character Uncle Dien and his world and motivations, via a process of rationalization and editorialization about the Vietnamese Rashomon.  Interestingly, the exploration and exposition of Uncle Dien occurred all in dialogues. There is no better way to accomplish this purpose than telling by dialogues.
The character’s creator had to rationalize for us by using the analogy of Rashomon.  Her symbolic and imaginary lovebird sings Rashomon. Why?
When I think about these technical aspects of the craft of novelistic writing, post-facto, as evidenced by this novella, I feel and sense the burdens facing a Vietnamese American writer living between cultures. Among those Vietnamese who write in English, yet still understand and speak the Vietnamese language very well, Uyen Nicole Duong is the only one who still straddles these two complex and paradoxical worlds.   Why? I asked her.  “It’s the love and respect for my parents and their generation,” she said.
The only thing to cope in between two worlds for a writer like her is to commit the sin of novelistic writing: to opinionate and rationalize in order to explain and interpret, in the middle of her otherwise subconscious novella. The empathy comes only from the few friends like me, those who understand the complexity of both worlds, the demands and curses that she must undertake, while striving all her life (almost like a contortionist) to call them her blessings: the richness of life experience or the sense of duty of an immigrant still loyal to the home culture, that is.  (Nabokov, the noted author in exile, on the other hand, divested himself of that loyalty, both to Russia and to America, with his amoral Lolita.  He took the punch, which became his Hollywood success.)

The visual artist’s journey 
It is obvious to me that Nam is Uyen Nicole Duong’s symbolism of art, where art is symbolized by the unfulfilled, yet eternal love between two innocent children. The theme is almost cliché. Childhood love. What brings it to life is, again, the textual backdrop — that Vietnamese alley which, in stark contrast against Parc Royale, is the most authentic of all symbols of authenticity. 
Here, Mimi’s creator uses the symbolic impressionistic brush and no longer intricate details to describe the alley where innocent love takes place. The squatting women, the rain, the heat, the uncontrolled little baby brother, the aristocratic grandmother, the teacher-turned-mason, the sickly mother who had a miscarriage, the smell of the earth, the naked children rain-bathing, the old Chinese tomb, and Mimi’s insecurity about it all.  In that insecurity and fear of loss and the feeling of not belonging, she finds comfort and home.  Because of Nam.
It is difficult for me to envision or classify whether Nam is the protagonist or the antagonist, in the traditional dialogue or categorization of a literary critique. It is noteworthy that either as protagonist or antagonist, Nam never narrates anything directly to us.  He only wrote a few lines, spoke a few lines, and drew a lot of pictures and objects.  What tragically happened to him and his inner world were all described via the words of others, like Old Kiki and Mimi herself. This is very typical of Uyen Nicole Duong’s art, craft or subconscious construction. The most important voice is always the missing voice.  Perhaps Nam is nothing but these other characters’ projection of themselves. 
Yet, this novella is about Nam, the visual artist.  As a visual artist, Nam’s wishes are simple yet more grandiose than anything we have ever known.  He wanted to draw and send postcards all over the world.  The epitome of internationalization and globalization. What an ambition, yet so matter-of-fact-ly stated!  Postcards, here, become the identity and possession of Nam, for him to assert himself as the artist without border.   Postcards, here, therefore, become the voice of a people. And culture.
What’s more, Nam is a clever, resourceful, and highly intelligent boy.  Look at what he has done:  making money in a small alley, finding his way to the luxury goods and gourmet delicacies of Saigon as a token for his love. One may question whether this is believable. Not for the regular average Vietnamese boy, but for Nam, oh yes, because Nam is supposed to be a genius, so naturally genius that he is underestimated by himself and even his “snobbish” love, the endearingly cocky Mimi.  (Mind you, he is also a French chef by imitation, and a professional gambler who would beat you at Las Vegas, any time!)   In the transition of Vietnam, he travels all the way down south for the boat’s escape and maneuvers enough to save his brother from the beasts of the sea.
Miraculously, he even saves his life against savagery!
And, he is also beautiful beyond description, such that he becomes that rare pearl in the white sand – the sheer life force that accounts for his survival, in the myth of the sea. He is Art himself.  In this sense, this novella is a work of surrealism and mysticism, typical of Mimi’s creator as I have known her.  One does not dissect this body of work to find out how believable it’s got to be.  One must approach it with a blind sense of faith, in Nam and in Mimi, and what they represent to us.
Nam is also our tragic hero. The young boy who has the courage to make a promise. Such a grand promise. Grand like his ambition. The promise is to become Mimi’s protector. To take care of Mimi’s heritage – her aristocratic grandmother, abandoned at the end of the war and discarded in the change of regime.  Figuratively Nam has made a promise as grand as that of Tu Hai, the literary hero of the Vietnamese, as Mimi’s creator told me, having stripped herself of the author’s cloak.
Yet, Nam is such an unlucky being, before man, beast, and God, before that almighty sea of our moonstruck mermaid, Mimi, who looks for him against the waves.   Does art survive?  In the words of the Asian version of Hemingway’s Old Man, Old Kiki, yes, art does survive.
But in the end, our visual artist does not survive. And Hemingway’s Old Man poignantly tells us that. Memory, or history, can destroy delicate art.  Nam is defeated. The tragedy takes over him completely, and he succumbs to that tragedy by repeating it upon himself.  Nam must ennoble himself with the calling to feed his family and to day-dream about his sweetheart Mimi as the only internal escape. 
The survivor is therefore, his love, Mimi, who must recreate the postcards, the alley, in all the confusion created by the lack of black-and-white clarity and the dilemma of moral judgments by first-generation immigrants. By returning to her roots, she must face individuals like Uncle Dien and Lieutenant Dat, and the terrible secrets they hold, all murmured by vicious gossips,  rumors, and personal attacks.  No more no less than the confusion among the survivors of the Jewish Holocaust or the Cambodian killing field.
There is only one way to breathe victory and success into Nam, our tragic hero:  it is the salvation of Nam’s brother.  Here, Nam becomes the benevolent Sisyphus of Vietnamese boat people.  He repeats the tragedy to no end with his lifestyle in Bangkok, the result and justification of which – the only thing that makes sense at all in exchange for the damnation of a visual artist — is the saving of his brother. Tiep is Nam’s success story. Like Mimi, Tiep suffers from amnesia in order to become whole.  Nam provides the potion for that amnesia.  Like Mimi, Tiep becomes the successful immigrant who can forget. This is the grandest and most difficult mission that Nam has accomplished, and it has also become the curse of his life.   
 Love versus tragedy
The Western critic would consider the novella a Greek tragedy.  Yet, it is a tale of romantic love, the only thing that makes sense in time of chaos.  The garden of love is the alley of crowded pre-communist Saigon.  Two children.  One bond.  And then tragedy beyond their control pulls them apart, until the phoniness of Parc Royale contextualizes her willing return to him.  Love, by its nature, as defined by the Greek gods of the West, is pre-destined, yet selfish and possessive.  Nam can leave Tiep, his biggest creation, to the amnesia, but he must regain Mimi to himself, before he gives it all up.  Religious calling, to Nam, in middle age, is the equation of a peaceful death, because although he can now be free from his Sisyphus fate, such beginning is also a departure from love – after that, we readers understand there will be no more postcards.  Mimi is to reconstruct her life based on the knowledge of Nam’s tragedy.  The birth of a novelist to tell the story of their lives, their love, and their immigration experience is her turbulent birth, and also his calm death.  The letting go of the love birds is the path of artistic creativity.  Yet, in there, once, there is also the voice of the character’s creator: the “nothingness” of Buddhism. 
So, here, Mimi’s creator told me she reluctantly consented to a translation of her title to denote that possessiveness – the postcards do belong to Nam.  They are Nam’s creation.  His claim of identity.  No longer just the vague voice from a culture.  Or a place.   It is Nam’s right to reclaim the memory of childhood shared with Mimi.  His Claim to Love. And Hymn to Life.   In this sense, Nam has not died.  Will not die. He becomes Mimi’s life force.  
Before that proclamation of right and artistic authorship – via the postcards, Nam was all about giving and self-sacrifice. The perfect unconditional love. He gave it all and never asked for anything in return.  He gave his Mimi her favorite food, perfectly prepared. He became the flattering audience of her performance.  His unending support and utmost adoration was unconditionally given. And he set her free.  She was never burdened by him, because after all, he was just a little boy who remained in his modest place, the alley, for his Mimi to fly high in her childlike ambition of her future – to become the lady of the world. 
How idealistic is that love? Very much. How realistic is it? Also very much.  In the innocence of childhood, ideals are absolutely possible. “It’s someone’s Dalat. It’s my Hue. It’s us Saigon.  Like Proust’s Lost Paradise.”  Mimi’s creator told me.  


Destination:  the journey to truth    
Mimi, after all, signifies our yearning for truth. A logical and rational being, she practices self-control, suppressing the romantic idealist in her.  The postcards, as news, become the bridge to truth.  But, in that truth-seeking mission, she is also motivated by the yearning for love – what is lacking in her North American life, camouflaged by the amnesia she experienced about her childhood and the fall of Saigon.  Her own tragedy, not yet told to us here, in this novella.  But her creator does give us a hint:  what causes her amnesia and then her awakening? 
Incidentally, in the character building that gives us Mimi, we also see the coming of age of a young girl – her introduction to what womanhood means. Why such elaborate description of the Vietnamese hospital and the experience of birth, labor, and death (the near-death experience of Mimi’s mother and the loss of her baby brother, the fetus – a controversial spiritual question???) 
We see that along with the idealistic notion of childhood love is Mimi’s entry into the world of human sufferings, women in poverty specifically.  At the hospital, our Mimi becomes the woman-child.  As astute readers, we may see these hospital scenes as the “slice of life” story-telling approach. But, as poignant observers, we see how Mimi has received love and also the knowledge of life.  
And then there is the impressionistic description of the unclaimed tomb that belongs to the dead immigrant: the Chinaman – Mimi’s first notion of a lost soul, the fate of an immigrant, dead and buried on foreign land somewhere in an alley among people he did not know.  Mimi’s creator never speaks to us of how Mimi might have remembered the tomb as a grown-up: she will one day become like that Chinaman – dead and buried in America.  It is our job as thoughtful readers to think about the writer’s subconscious journey – her creation and her symbolic description of the details and events that make up the novella.  What does it mean the old Chinese tomb in that Vietnamese alley?
The sketches of this novella also tell us the epic nature of the body of work at one time, before the novella was born.  We become curious about Mimi, the same way Mimi has become curious in her truth-seeking mission.   That truth-seeking mission leads our Mimi to the darkness of untruth – the worlds of characters like Uncle Dien and “that SOB Dat” – together making up the “freedom of speech” rotten phenomenon of the first-generation – their price for the escape at sea?  
And out there, there is also the character of David Dougherty – the uninvolved mainstream watcher. The benefactor, nonchalant, yet tangentially interested. 
The stabilizing force?  Mimi’s mother and her voice. The nurturing voice of motherhood, who helps, who explains, and who reinforces a sense of self. The voice of Mimi’s mother (always by phone only) becomes the author’s convenient means of rationalization to achieve her artistic compromise against that burden of culture.  
Finally, in the will of her creator, Mimi’s truth-seeking mission becomes the Vietnamese Rashomon, the most terrifying tale to be sung by the love-bird:  the darkness, the uncertainty, the nastiness, the artist and truth seeker’s constant striving for a sense of nobility in a place that can be so ugly and threatening, the very burden that Mimi’s creator must bear.  The pen flows, yet blocked as a result. The price of survival and life-rebuilding, for an immigrant artist, is also the imprisonment of culture. The only clarity, therefore, is Love itself.  But that Love is unfulfilled, despite Nam’s claim of ownership. 
Between Nam and Mimi, at least one must survive.  Truly survive, in the perfection of art.
                                                                        
 
G.B.A. Nash
8/2009

Tuesday, June 2, 2020

A President speaks: systemic bias or structural bias: the unseen enemy of equality and diversity in America

https://www.yahoo.com/news/george-w-bush-says-remains-212443160.html

ABOUT UYEN NICOLE DUONG'S POSTCARDS FROM NAM

REVIEW BY Dr. Truong Buu Lam, historian and retired professor from University of Hawaii:






Author: Uyen Nicole Duong

Publisher: AmazonEncore.
ISBN: 9781612180182

AmazonEncore was the new publishing division of Amazon Corporation, established in 2011. It picked up my manuscript from a Penguin basket for a joined Penguin-Amazon contest. I have never had a literary agent and my work has never been sent to any mainstream literary award panel, nor enjoyed the professional marketing or promotion of a NYC-publisher...





Usually, I always try to familiarize myself with a new book by reading all of its paraphernalia: preface, postface, acknowledgments, introduction, etc. This time, I am so glad I did not read the Post Script first. Otherwise it would have turned me off from getting further into this book. That would have been a disaster!

For this book IS good, by whatever name you may give it: long story, short novel or novella. The author writes well and deserved to be complimented on her own merit and NOT because she came to the US at the age of 16, or because she gives voice to any immigrant community, or because she straddles two, three, or any number of different cultures! She authored a work of fiction and her work should be evaluated, assessed, criticized, appraised as a work of art. Period. Please forgive me for digressing.

Postcards from Nam could have been a beautifully reminisced tale of a young, budding, deep friendship –or love if you insist-- between two teenager souls evolving in an environment which emphasized the difference in their social backgrounds…without, however, erecting insuperable barriers between them. The narration flows lightly, gracefully, unhindered; the description so evocative and realistic that one has the impression of being there. One, indeed, does not need many words to declare one’s feelings or to proclaim one’s devotion. Frugal, delicate, subtle, refined, graceful is what is mandated.

Two excerpts:

p. 19:

When I got to my house, I was too proud to thank Nam. So I just quietly withdrew my hand. Before I closed the door, I saw, again, his almond eyes, staring down at the spot in my gut where fear had once been, yet had subsided because he had held my hand.

p. 31:

-Why listen, Nam? You are not sophisticated enough to be familiar with this music.

-Oh yes, I am.

-Then, tell me. What the name of this piece?...


His face reddened. He could not answer. He did not know the name of the tune. I stopped playing to look into his almond eyes, wide open and tearful. His lips trembled; his nostrils palpitated beneath the red tip of his slender nose. He looked weak and vulnerable. In his adolescent way, he was also beautiful, like a baby nightingale with drooping wings, caught in the tropical rain of the Far East.


I do not care too much for the second part of this work. The plot sounds contrived, strained; the narration unequal, even superficial. I concede that the search for Nam did give the author the opportunity to introduce two extraneous elements to the story. First, a rashomon-like account revealing the sordid and tawdry dimensions of the Vietnamese community in California. Second, the inhuman circumstances the Vietnamese boat people encountered in their escape to foreign destinations combined with the superhuman courage of certain of them. But these two aspects have already been presented to the public in all of its angles, under every light, by so many people, including eyewitnesses. The introduction of these two elements costs this work its unity and its ethereal quality. Instead of a fairy tale, we have a common tale; still a fascinating one.