Showing posts with label interviews. Show all posts
Showing posts with label interviews. Show all posts

Wednesday, December 29, 2021

man dam van chuong -- phong van thuc hien boi Que Huong

 https://nguyenchan.wordpress.com/tag/duong-nhu-nguyen/

Đôi giòng:

Mạn Đàm Văn Chương Với Dương Như Nguyện giữa Quê Hương (QH) và Dương Như Nguyện (DNN) là một trao đổi về văn chương với nhiều tình tiết phong phú, hữu ích, chưa kể đến tư  cách (xã hội) rất đáng trọng, đáng quý của nhà văn Dương Như Nguyện.

Mạn Đàm Văn Chương Với Dương Như Nguyện

Nhân dịp thế giới bàn cãi giải thưởng Nobel văn chương 2012, ở khuôn khổ hạn hẹp hơn, thiển nghĩ nên có một cuộc nói chuyện về vấn đề cơ bản: thế nào là phân tích và diễn đạt giá trị văn chương, dùng các tác phẩm viết bởi người Việt.

Nhà văn Dương Như Nguyện (DNN), tức luật sư, giáo sư Wendy Duong, là người độc nhất trong cộng đồng người Việt hải ngoại trực tiếp viết song ngữ: Việt và Anh. Năm 1999, Bà làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (Post-JD) về phân tích văn chương và luật học tại đại học Harvard (Law and Literature). Cùng năm ấy, Bà đến với cộng đồng người Việt với tập truyện Mùi Hương Quế do Văn Nghệ Xuất Bản, gây sôi nổi trong thời điểm đó. Năm 2005, tiểu thuyết tiếng Anh của Bà, Con Gái của Sông Hương, ra đời. Gần đây, hai cuốn tiểu thuyết kế tiếp, Mimi and her Mirror và Postcards from Nam, được một công ty truyền thông ở Los Angeles chọn là tiểu thuyết đa văn hóa hay nhất trong số sách thế giới được tự ý duyệt bởi công ty này cho năm 2012 (International Book Awards). Tác giả cho biết tiểu thuyết cuả DNN chưa bao giờ được gửi đi dự giải trong dòng chính nước Mỹ. Dù rằng bà may mắn có nhà xuất bản tìm đến bà để bà khỏi phải tự in, bà chưa bao giờ có đại diện mại bản văn chương trong dòng chính (literary agents). Vì là một luật sư làm việc trong dòng chính, bà không quan tâm lắm ̣đến vấn đề xuất bản sách khi còn trẻ. Bà cũng không đặt trọng tâm theo đuổi sự nghiệp chính trị trong dòng chính qua nghề luật, vì không thích.   


Bài phỏng vấn này được chia làm hai phần, nói về vấn đề phân loại, bình luận và bình giảng tiểu thuyết. DNN không những chỉ đặt vấn đề vào tiểu thuyết của Bà, mà còn bàn luận về hai tác phẩm từ Việt Nam: Bóng Đè (gây sôi nổi) và Dị Hương (được giải thưởng của VNCHXHCN).

…Tôi mường tượng tiếng roi đi trong không khí nghe vun vút như tiếng xé lụa trong điển tích Trung Hoa…Giữa nhịp roi, tôi nghe tiếng Thịnh gọi “Mỵ Nương Mỵ Nương…”

Tôi kêu khẽ, “Thịnh ơi,” nhưng tiếng kêu không thoát khỏi thanh quản. Ở đâu đó vang vọng tiếng hát lảnh lót, tiếng hát tôi đã quen từ ngày thơ  ấu, “Đêm năm xưa, khi cung đàn gây mơ, hoa lá quên giờ tàn, mây trắng bay tìm đàn, hồn người thổn thức trong phòng loan…” Trong không gian u tối, tôi thấy một điểm sáng di động. Tôi rướn người lên một lần cuối và hình như dây trói bật tung…

Tôi đi theo điểm sáng, đi theo tiếng hát, nương theo LỐI VỀ, NGÕ THOÁT, HAY NGÕ CHẾT. Có tiếng réo gọi mơ hồ, “Mỵ Nương, Mỵ Nương…” 

Dương Như Nguyện

Quê Hương (QH): Chào Chị Như Nguyện. Kỳ phỏng vấn của Báo Ngày Nay Houston năm 2011, Chị nhắc đến phê bình văn học và nghệ thuật tiểu thuyết. Theo Chị, nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam bắt đầu như thế nào?

Dương Như Nguyện (DNN): Đây là cả vấn đề văn học sử. Tóm tắt rất ngắn: theo tôi, có lẽ một trong những cuốn tiểu thuyết văn chương đầu tiên ở VN là Truyện Kiều của Nguyễn Du, được coi như một bài thơ tiểu thuyết bi hùng tráng, như Ulysses của Homer, nhưng cốt truyện lại lấy của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu. 

Nghệ thuật tiểu thuyết tâm lý viết bằng văn xuôi thật sự đến với người Việt chúng ta từ thế giới Tây Phương qua thời Pháp thuộc. 

QH: Như vậy, phê bình văn học là gì và liên đới đến vấn đề bình giảng văn chương như thế nào?

DNN: Phê bình văn học gồm hai mặt:

1) Hình thức (thí dụ, cách xử dụng các thuật pháp viết văn: cách tạo dựng nhân vật chẳng hạn);
2) Nội dung (thí dụ, tư tưởng và chiều hướng, triết lý đứng sau nhân vật và cốt truyện).

Phê bình văn học đứng đắn cần phải dựa trên chu trình bình giảng văn chương (literary interpretation). Tây Phương cho chúng ta hai lý thuyết chính về vấn đề này. 

1) Thuyết cổ điển cho rằng phê bình gia phải tìm hiểu ngụ ý và mục tiêu của tác giả.
2) Thuyết hiện đại được những cây viết lớn của Tây Phương trong thế kỷ 20 cổ võ. Thí dụ, Roland Barthes cho rằng nhà phê bình cũng là nhà sáng tạo, có quyền đem cái nhìn của mình gán cho thi văn, có khi trái hẳn hay bẻ ngược ngụ ý và mục tiêu của tác giả để áp dụng tác phẩm vào những trạng huống mới, nhằm mục đích cổ võ hay khai phá một hệ thống tư tưởng nào khác không lệ thuộc vào tác giả nữa. Bài bình giảng do đó trở thành một tác phẩm sáng tạo riêng. Khi tiểu thuyết ra đời, tác giả phải «chết đi» và nhà phê bình trở thành nhà sáng tạo. 

Hai lý thuyết này cũng đã được đem áp dụng vào luật học, nhất là ở địa hạt luật hiến pháp, đòi hỏi diễn giải về ngôn ngữ.

QH: Xin Chị cho thí dụ về áp dụng thuyết hiện đại. 

DNN: Trước cộng đồng người Việt, tôi đã làm hai thí dụ :

1. Thí dụ thứ nhất: Cách đây khoảng 5 năm, tôi áp dụng lý thuyết hiện đại vào việc bình giảng câu thơ cổ: « Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, bất hứa nhân gian kiến bạch đầu».  Tôi đã bẻ ngược ý nghĩa đầu tiên của câu thơ này, nhằm mục đích xác định lại thế nào là «mỹ nhân» qua cái đẹp của trí tuệ và nhân cách trong xã hội hiện đại. Một độc giả không quen đã nhắc khéo, cho rằng tôi hiểu sai nghĩa đen của câu «người đẹp vẫn thường hay chết yểu» Nghĩa đen này quá rõ không cần phải nói đến nữa. 

Thật ra, tôi muốn tách rời người Việt hải ngoại ra khỏi ảnh hưởng của tư tưởng cổ thi đến từ Trung Quốc, khi cần thiết. Câu hỏi chúng ta cần đặt ra là: ngày nay, “mỹ nhân” có nghĩa là gì cho phụ nữ Việt Nam, không cần phải quay về với ý nghĩa đầu tiên của câu thơ chữ Hán.

2. Thí dụ thứ hai: Tại thư viện San Jose, tôi đi xa hẳn nghĩa đen của câu «Truyện Kiều còn, nước ta còn ». Tôi muốn đặt lại câu hỏi: Tại sao người Việt không những tôn sùng Bà Trưng, mà còn tôn sùng truyện Kiều, dù rằng cô Kiều là người Tàu? Nói một cách khác, tại sao Nguyễn Du lại phải lấy hình ảnh của một người kỹ nữ Tàu để diễn tả những ẩn ức của chính mình và tại sao Truyện Kiều trở thành «vưu vật của đất nước»? Lý do có hoàn toàn nằm ở giá trị ngôn ngữ của truyện Kiều hay không? Tôi nghĩ là không. 

Theo tôi, nếu bà Trưng là hình ảnh nữ anh hùng dựng nước (nation-building) được tôn sùng, thì cô Kiều và truyện Kiều tượng trưng cho chỗ đứng của nghệ sĩ sáng tạo (the literary art) trong việc giữ gìn văn hóa Việt Nam. Cả hai đều được tôn sùng trong tâm thức quần chúng. Vì thế, việc cô Kiều không phải là người Việt không còn quan trọng nữa, vì cô Kiều đã trở thành biểu tượng gần gũi của văn chương sáng tạo trong lòng dân tộc Việt.

Trong chiều hướng ấy, nhà phê bình và phân tích văn chương cần phải mang vào việc diễn giải Truyện Kiều những vấn đề của xã hội ngày nay, không nhất thiết phải quay trở về với ngụ ý hay tâm tư của Nguyễn Du khi ông viết Truyện Kiều.

QH: Chị có thể cho thí dụ bằng tác phẩm của Chị: ngụ ý nào là của tác giả và ngụ ý nào là cái nhìn của độc giả Việt Nam đi ra ngoài chủ đích của nhà văn? 

DNN: Như vậy tức là tôi phải nói về tiểu thuyết của mình thay vì phải “chết đi” theo lý thuyết của Barthes.

1. Thí dụ về ngụ ý của tác giả: Tôi ngạc nhiên không có độc giả VN nào nhận ra điểm sau đây: trong cuốn tiểu thuyết Con Gái Của Sông Hương xuất bản năm 2005, có 3 chị em: hai cô con gái và cậu con trai út, chẳng khác gì …”đầu lòng hai ả tố nga… Một trai con thứ rốt lòng…” Simone, cô con gái đầu lòng, hy sinh mối tình riêng để vội vã kết hôn với một người không quen biết nhằm đem gia đình qua Mỹ, nhưng rồi Simone quay trở về tìm lại cội nguồn. Đây là biểu tượng cho cái giá của kiếp di dân: tâm sự kẻ lưu đày bắt đầu bằng sự hy sinh bản ngã, cái mà tôi gọi là mặc cảm lưu lạc của Thúy Kiều trong tâm thức văn hóa của người Việt lưu vong.

2. Thí dụ về sáng tạo của độc giả: Một vài nhà phê bình VN đã nảy sinh ra những tư tưởng mà tôi chưa hề nghĩ đến. Thí dụ, họ cho rằng tất cả các nhân vật nữ của tôi trong tập truyện Mùi Hương Quế đều là hiện thân của một người mà thôi và người đó là tôi. Dưới cách nhìn này, MHQ có thể được xem là một cuốn tiểu thuyết, có một phần tự truyện vì dạng tùy bút được dùng trong tuyển tập. Đây là kết quả sáng tạo của nhà phê bình, ngoài dự tính của tác giả, đúng như Roland Barthes đã nhận xét. Từ lời bình giảng nầy, tôi nẩy sinh ra tư tưởng muốn viết lại cuốn MHQ thành một truyện dài, trong đó nhân vật nữ hóa thân thành nhiều kiếp, qua nhiều đời sống.Và tôi cũng đã nảy sinh ra ý nghĩ viết hồi ký – tự truyện.

QH: Xin Chị nói thêm về Mùi Hương Quế (MHQ). Thành hình như thế nào và có tác động gì trên độc giả Việt Nam?

DNN: Năm 40 tuổi, tôi từ Á Châu quay về Mỹ và quyết định «về hưu sớm» lần thứ nhất để viết tiểu thuyết. (Hiện giờ, tôi đang «về hưu sớm» lần thứ hai.) Tôi đưa tập truyện tiếng Việt cho cha mẹ tôi xem. Cha tôi là người biến tập truyện thành sách và làm việc trực tiếp với nhà xuất bản Văn Nghệ. MHQ là một tác phẩm tiếng Việt chỉ có người Việt đọc, dù rằng đa số các truyện trong MHQ tôi đều viết bằng song ngữ.

Tôi chưa bao giờ đứng ra tổ chức giới thiệu sách hay ký sách cho cuốn MHQ, vì tôi hoàn toàn không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Thí dụ: lúc đó cha tôi muốn tôi xin lời giới thiệu của Bác Doãn Quốc Sỹ. Tôi cũng không muốn nhọc công Bác. Tuy nhiên, có một vài nhà văn Việt Nam đã tự ý viết hoặc nhắc về MHQ, trong đó có Lê Thị Huệ, Nguyễn Xuân Hoàng và Đoàn Nhã Văn. Nguyễn Mạnh Trinh có yêu cầu một cuộc phỏng vấn viết tay rất dài, nhưng trong thời điểm đó, tôi không thể tham dự.

Từ đó đến giờ, đã có người lấy truyện ngắn từ MHQ đem đọc trên radio hay ghi âm vào băng cho cộng đồng hải ngoại, và cũng có người cũng đã lấy truyện từ MHQ đem in lại và xuất bản ở Việt Nam. Họ không hề báo cho tôi biết trước hay yêu cầu tôi chấp thuận.

MHQ tạo tiếng vang qua hai tùy bút ngắn:

1) Tùy bút Mùi Hương Quế được dựa trên kinh nghiệm lần đầu tiên tôi cãi trước tòa ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn, trong một vụ án liên quan đến thị trường chứng khoán; 
2) Tùy bút «Những Cổ Quan Tài của Tĩnh Tâm» dựa trên hình ảnh bà ngoại tôi, một phụ nữ xứ Huế.

Một số độc giả cho rằng hai tùy bút nầy nói lên tâm thức hướng về phương Đông. Các độc giả phái nữ của MHQ thường yêu thích truyện ngắn «Tình Yêu Giữa Hai Dòng» nói về hôn nhân và tình yêu dị chủng.

MHQ trở thành sôi nổi vì hai truyện ngắn khác, nói về phụ nữ trí thức di dân theo đuổi nghệ thuật: một người là diễn viên sân khấu và một người muốn làm vũ công. Truyện ngắn Mỵ Nương có sự căng thẳng tâm lý của nạn nhân một thảm trạng gia đình trong giới «quý tộc» của VNCH. Ở Mỹ, Mỵ Nương chọn lựa một cuộc tình có bạo lực với một người đàn ông Bắc Mỹ; thời thơ ấu ở Việt Nam, cô ta là nạn nhân của bạo hành vì cha cô – một chính khách của VNCH — đánh đập cả 2 mẹ con. Trong Mùa mưa Singapore Kha Trâm là nạn nhân của một cuộc hãm hiếp, mà thủ phạm chính là tình nhân cũ, một người đàn ông Âu Châu trong cuộc tình tạm bợ. Cả hai truyện ngắn này đều được trích từ hai truyện dài tôi viết dở dang bằng tiếng Anh, vẫn còn để đó, chưa viết xong cho nên chưa xuất bản (và có thể không bao giờ xuất bản) trong dòng chính. Mỗi bản thảo khoảng trên 200 trang.Tình dục không phải là trọng tâm của bản thảo.

Tôi quyết định trích và viết lại hai truyện này thành tiếng Việt sau khi đọc cuốn Marie Sến của Phạm Thị Hoài, do Lê Thị Huệ gửi. Tôi thấy bà Hoài viết quá trắng trợn và chua chát làm mất đi cái đẹp của thế giới tâm linh người nữ. Marie Sến tượng trưng cho cái gì không đẹp và tôi nghĩ rằng đây là chủ trương của bà Hoài. Rõ ràng bà Hoài là một trí thức được đào tạo bởi xã hội chủ nghĩa và phản kháng lại chính cái đã tạo ra mình. Vì thế, tôi quyết định sẽ đưa ra một thí dụ tương phản: tôi sẽ mô tả một chút liên hệ chăn gối của phụ nữ đẹp, một cách gợi cảm mà vẫn giữ được ý nghĩa luận đề của những gì tôi muốn vạch trần hay cổ võ – thí dụ, tôi dùng tâm tư của phụ nữ để nói lên những nhược điểm của một số đàn ông: bản tính chiếm đoạt, hiếu chiến và lòng tự ái, nhưng thật ra họ rất yếu đuối và dễ vỡ vì bản chất sự chiếm đoạt của nam phái thiếu tính bền bỉ; đồng thời tôi muốn nói lên một số thảm kịch đuợc dấu diếm tiêu biểu cho sự giả dối của xã hội Châu Á chịu ảnh hưởng Nho Giáo, trong đó có Singapore và Việt Nam (trong trường hợp Việt Nam, có thêm những biểu tượng về việc Saigon sụp đổ và chỗ đứng của lãnh đạo hay trí thức; trong trường hợp Singapore: quốc gia nhỏ bé ấy tượng trưng cho sự thành công của tính tổng hợp các sắc dân ở Châu Á mà lại nằm trong cơ chế độc đảng).

Trước khi đưa truyện ngắn Singapore cho báo Thế Kỷ 21 đăng, tôi viết một lá thư cho chủ bút Phạm Phú Minh (aka Phạm Xuân Đài) và giải thích lý do vì sao tôi muốn gửi đăng truyện này. Bà PhạmThị Hoài và tác phẩm Mari Sến chính là nguyên nhân tôi muốn đưa một vài mô tả gợi cảm liên quan đến tình dục vào môi trường Việt ngữ để diễn giải luận đề qua dạng tiểu thuyết – Mỵ Nương và Kha Trâm tương phản với Mari Sến. Tôi chỉ muốn «điểm nhấn» này thôi và một số độc giả Việt Nam (kể cả thân sinh ra tôi) cũng cho rằng «điểm nhấn» này là tiếng nói của nữ quyền cho phụ nữ Việt.

Lúc đó, tôi vẫn không hề có dự định viết văn cho cộng đồng hải ngoại.

Trong MHQ, song song và tương phản với 2 truyện ngắn «xé rào» này là một truyện vừa (novella), mô tả chuyến du hành của một phụ nữ Việt di dân, đi tìm nơi sinh của Phật. Ở đọan kết, nhân vật chính mất tích trên sườn núi của Chùa Khỉ tại Nepal. Một số độc giả thích truyện này vì tôi đi vào thế giới của Phật Giáo.

Nhiều độc giả Việt Nam cho rằng tôi đã qua táo bạo và xé rách hàng rào luân lý Việt Nam vì hai nhân vật «Mỵ Nương» và «Kha Trâm» Thời điểm ra đời của MHQ là 1999; trước đó không có những mô tả về liên hệ chăn gối giữa phụ nữ Việt Nam với đàn ông da trắng trong khu vườn văn chương Việt của phụ nữ Việt, cho dù nhân vật của tôi là nạn nhân của 2 hình thức bạo hành khó nói nhất (domestic violence; date rape). Sau khi MHQ ra đời thì ở hải ngoại, hình như có «mode» phụ nữ Việt nam viết rất bạo về tình dục. Tôi không có gì thích thú trước tình trạng này và đã nhấn mạnh điểm này với chủ bút Phạm Phú Minh.

Nhìn lại vấn đề gây sôi nổi của MHQ, tôi rất ngạc nhiên vì 2 dữ kiện:

1) Cha mẹ tôi, học giả và giáo sư Việt Nam sinh ra trong thập niên 1930, đưa MHQ vào cộng đồng hải ngoại mà không hề lo lắng về hai truyện ngắn «xé rào» viết bởi con gái mình. Cha tôi, người đọc bản thảo và sửa bản kẽm, là một học giả thuần túy và cũng là một họa sĩ tài tử. Ông có sự thuần nhất của bản chất nghệ sĩ, không câu nệ những gì nhỏ nhặt mà chỉ nhìn vào giá trị tổng quát mà thôi.

2) Khoảng 5 năm sau, ông Thế Uyên, thuộc đại gia đình Nguyễn Tường Tam, đã liệt kê MHQ vào danh sách tiểu thuyết tình dục viết bởi phái nữ, mà không nhắc đến tính chất luận đề của tiểu thuyết, cũng như biểu tượng của các nhân vật hay trạng huống trong MHQ — hoàn cảnh và tâm tư của phụ nữ di dân.

Tôi xin xác định: MHQ là tác phẩm luận đề, không phải là tiểu thuyết tình dục (tiếng Mỹ gọi là «literary erotica», như một số tiểu thuyết của Anais Nin, nữ văn sĩ đầu tiên viết tình dục của Mỹ — Anais Nin sống ở Paris và là người tình của Henry Miller, tác giả cuốn Tropic of Cancer. Bà Nin cũng là một phụ nữ thiểu số: gốc Cuba mang quốc tịch Pháp, và đã phải học Anh Ngữ trước khi viết.)

QH: Dùng văn chương của Anais Nin làm tiêu chuẩn, thì theo Chị, thế nào là một tiểu thuyết tình dục, cái mà người Mỹ gọi là «literary erotica»? Thơ Hồ Xuân Hương, theo Chị, có là “erotica” hay không?

DNN: «Literary erotica » là những tiểu thuyết viết để mua vui, nhằm mục đích giải trí cho độc giả về phương diện tính dục, hoàn toàn không có luận đề gì cả. Tuy nhiên, vì tác giả viết rất hay, có cái đẹp thẩm mỹ và văn chương có giá trị như một tiểu thuyết đúng nghĩa, nhiều khi chuyên chở tâm lý vào tư tưởng nữa, thành ra các nhà phê bình cho đó là văn chương, ý nghĩa chữ «literary» trong cụm từ «literary erotica»: không phải là ngôn ngữ ô uế rẻ tiền, kiểu «lá cải» hay «khiêu dâm tục tĩu» (danh từ luật pháp là «obscenity» hay «pornography»). 

Trong lịch sử văn chương thế giới, rất nhiều tiểu thuyết luận đề đã bị xếp loại là «tiểu thuyết tình dục» hay khiêu dâm, trong đó có cả tác phẩm của đại văn hào Tolstoy và nhà văn di dân Nga, Nabokov, vì các tác phẩm nầy diễn tả khát vọng cảm giác (dịch chữ «sensuality») của nhân vật dưới một hình thức nào đó, bị coi là đi ra ngoài hàng rào luân lý xã hội thời đó.

Tôi chưa hề viết hay cho xuất bản “literary erotica” bao giờ cả. Vì MHQ, một cô giáo của tôi ở trường trung học cũ so sánh tôi với Hồ Xuân Hương trong khi tôi chưa bao giờ thích thơ hai nghĩa (double-entendre) của HXH. Tôi thích thơ cổ điển, trang nhã và u hoài của bà Huyện Thanh Quan hơn.

Tôi không nghĩ rằng văn chương của HXH là «literary erotica» vì tất cả các bài thơ của bà đều có luận đề quá rõ ràng và hiển nhiên – chủ đích của bà không phải là làm thơ để tạo cảm giác «mua vui» cho độc giả. Theo tôi, những bài thơ không có luận đề bị đem gắn vào tên bà thường không mang «thi phong» của HXH. Nói về HXH, tôi chỉ thích và thán phục những câu thơ nổi lên chí khí cao của bà (thí dụ dưới đây — theo tôi, HXH nói về chính mình chứ không phải nói về Ông Phủ Vĩnh Tường): 

Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi…

Nữ văn sĩ Anais Nin, ngược lại, cố tình viết tiểu thuyết tình dục để kiếm tiền. Hình như bà ta được trả mỗi trang một đồng đô-la Mỹ, khoảng đầu thế kỷ 20.Văn của Anais Nin rất đẹp, tuy rằng viết để mua vui cho độc giả đàn ông. Tác phẩm khiêu dâm của Tây Phuơng viết dưới thời nữ hoàng Victoria đa số là «ẩn danh.» Trước Anais Nin, văn chương tình dục là môi trường hoàn toàn được thống trị bởi nam giới, thiếu hẳn cái nhìn của phụ nữ. Vì thế, có nhiều người cho rằng Anais Nin là chiến sĩ cách mạng của phụ nữ khi bà tham gia vào cái «club» đàn ông chuyên viết tiểu thuyết tình dục. Tuy nhiên, nét thẩm mỹ trong văn của Anais Nin đã cho bà một chỗ đứng cao trong văn chương Anh Mỹ. 

QH: Chị nói rằng không có ý định trở thành nhà văn cho cộng đồng hải ngoại. Như vậy thì tại sao có những tác phẩm tiếng Việt xuất bản sau Mùi Hương Quế?

DNN: Tôi chủ trương không ra mắt sách cho cộng đồng người Việt để có dịp bán sách cho đồng hương. Chủ trương nầy đồng nhất với quyết định nghề nghiệp: từ năm 1984, tôi chưa hề muốn mở văn phòng Luật để kiếm sống trong cộng đồng người Việt hải ngoại. (Nếu ngày nào tôi mở văn phòng luật, đó là ngày tôi muốn phục vụ, nhất là các vụ án kỳ thị chủng tộc, vi phạm nhân quyền, hay các vụ án liên quan đến trí thức và chuyên gia gốc Việt.)

Vì thế, tôi chỉ đi ký sách theo lời mời một vài cộng đồng địa phương; thí dụ: cộng đồng Phuợng Vĩ của trường Đồng Khánh Huế (vì mẹ tôi), cộng đồng cựu nữ sinh Trung Vương ở Washington, D.C. cho cuốn Postcards from Nam, và những buổi đọc sách (literary reading) theo lời mời của một số đại học và thư viện trong dòng chính.

Năm 2005, tôi nhận được cú điện thoại của chị Nguyễn Thị Minh Ngọc, đạo diễn và nhà văn ở Việt Nam, nói chuyện dựng kịch cho cuốn MHQ. Tôi hiểu đó là sân khấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rồi quyết định không thể được. Tôi viết email cho chị Ngọc, và nói rằng “Chữ Trinh còn một chút nầy, Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan !…» Lý do: tôi không muốn trở về Việt Nam để tạo tiếng tăm và chỗ đứng cho tác phẩm của mình. Nếu tôi có dịp phục vụ cho đồng bào trong hay ngoài nước trong khả năng của mình, tôi sẽ không từ nan, nhưng nhờ vả vào khối người Việt nhất là trong nước để tạo tiếng tăm và chỗ đứng thì không. Sự đồng nhất trong quyết định nghề nghiệp và tâm tư cho chính mình, đối với tôi, giống như chữ «trinh» của cô Kiều – đó là tính nhất quán của tâm tư Kẻ Sĩ (mà nghệ sĩ cũng cần phải giữ), cho dù tôi không dám nhận mình là Kẻ Sĩ. (Thí dụ: với riêng tôi, Nguyễn Trãi xứng đáng là Kẻ Sĩ và tôi không giới hạn nghĩa nầy vào Khổng Học; trái lại tôi nói rộng chữ nầy với ý nghĩa của từ «Noblesse Oblige» trong tiếng Pháp và tiếng Anh.)

Chính vì cú điện thoại của chị Minh Ngọc mà tôi quyết định cho ra đời tập truyện Chín Chữ của Nàng để khẳng định tâm tư của tôi, bằng tiếng Việt, cho người Việt. Tâm thức quay về với nguồn cội, đối với tôi, phải là một sự cho đi (giving), một cố gắng thôi thúc bởi «Noblesse Oblige», không thể là việc «nhận lấy» (taking) từ đám đông vì quyền lợi cá nhân.

Sau Chín Chữ Của Nàng là bản dịch cuốn Con Gái của Sông Hương. Đây là món quà tôi tặng cho mẹ tôi vì bà không đọc được tiếng Anh mà không cần từ điển. Cuốn Bưu Thiếp của Nam có mặt cho cộng đồng người Việt vì Giáo Sư Đoàn Khoách Thanh Tâm của trường Đồng Khánh Huế cũ, có nhã ý muốn dịch cuốn sách nhỏ này để tưởng nhớ những thuyền nhân đã bỏ mình trên mặt biển, trong đó có một số cô giáo và bạn cùng lớp của tôi thời trung học ở Việt Nam. Tôi cho đó là bổn phận, hành động cho đi. (Tiền bán sách dĩ nhiên phải có để đền bù phí tổn và công trình in sách của nhà xuất bản Văn Mới.)

Cuốn Mimi and her Mirror không có mặt trong cộng đồng người Việt qua bản dịch tiếng Việt. Độc giả thích hợp với nội dung của Mimi sẽ tìm đến Mimi mà thôi.

Dương Như Nguyện

Nguồn: vietthuc.org

REPORT THIS AD


Saturday, November 9, 2019

BUU THIEP CUA NAM: Truyen Vua ̣(novella) -- phỏng vấn cuả Đài VOA thập niên 2000

lhttps://www.voatiengviet.com/a/postcard-from-nam-03-01-10-85823907/849214.html



'Tấm bưu thiếp đó cũng là biểu tượng của một cái gì to tát hơn chỉ là một tiếng nói của một cá nhân nhỏ bé'

SAU ĐÂY LÀ BÀI TƯỜNG THUẬT CUÀ̉ VOA TIẾNG VIỆT, TRONG THẬP NIÊN 2000, KHOẢNG NĂM 2009, THỜI GIAN CUẢ CHÍNH PHỦ OBAMA: 


"Vào khoảng thập niên 80, khi vấn đề thuyền nhân Việt Nam là một đề tài nóng bỏng, luật sư Dương Như Nguyện, người luôn trăn trở với cuộc đấu tranh sinh tồn của những thuyền nhân Việt Nam trong các chuyến vượt biển cũng như tại các trại tị nạn ở Đông Nam Á, đã mong muốn có thể tự mình tới giúp những thuyền nhân này với tư cách là một luật sư và một tình nguyện viên. Tuy nhiên, do điều kiện công việc không cho phép, luật sư Nguyện đã không thể thực hiện được ước muốn đó, chính vì vậy bà đã dùng ngòi bút của mình để bày tỏ nỗi cảm thông đối với những thuyền nhân gặp hoàn cảnh khốn khó trong cuốn tiểu thuyết mang tên "Postcards from Nam" .

Bà là giáo sư ngành luật tại trường đại học Denver (2001-2011), nhưng được biết ngay từ thời trung học, cô nữ sinh Dương Như Nguyện đã từng là một cây bút sáng giá của trường Trưng Vương hồi đầu thập niên 1970: Giải Danh Dự Văn Chương Phụ Nữ Lễ Hai Bà Trưng, VNCH, tháng ba 1975.

Cuốn tiểu thuyết ngắn  -- novella -- được bà viết bằng Anh và đặt tên là ‘Postcards from Nam’. Dịch giả Nguyễn Thị Thanh Tâm ̣-- cử nhân Văn Khoa VNCH --  đã chuyển ngữ sang tiếng Việt với tựa đề ‘Bưu Thiếp của Nam.’

Cuốn tiểu thuyết nói về tình yêu tuổi thơ, đặt trong bối cảnh thuyền nhân trong thập niên 1980.

“Tôi lấy tựa truyện là ‘Bưu thiếp của Nam’ vì trong cuốn tiểu thuyết, nhân vật chính là một người gửi bưu thiếp mà không nói rõ mình là ai. 

"Bưu thiếp là biểu tượng của những nguồn tin đến từ xa, đồng thời nó cũng là biểu tượng của tiếng nói của ai  đó, đến từ một nơi chốn nào đó. Hoặc có thể là nguồn tin hoặc tiếng nói của cả một tập thể hoặc của một dân tộc, mà cá nhân ấy chỉ là một phần tử. Vì ý nghĩa biểu tượng của chữ bưu thiếp cho nên tôi mới đem hình ảnh tấm bưu thiếp vào cuốn tiểu thuyết này. Trong cuốn tiểu thuyết, có một người đã gửi bưu thiếp cho một người khác, nhưng đồng thời bưu thiếp đó cũng là biểu tượng của một cái gì to tát hơn, không phải chỉ là một tiếng nói của một cá nhân nhỏ bé. "Nhân vật gửi bưu thiếp”  nói lên sự đơn độc cuà̉ mình, nhưng điều đó không có nghĩa tiếng nói chỉ̀ nằm ở hình thái cá nhân." 

Giáo sư Nguyện cho biết người kể chuyện -- narrator, không phải nhân vật chính -- là một phụ nữ trẻ làm nghề luật.  Cuộc đời nghề nghiệp của cô ta rất trôi chảy và không dính dáng gì nhiều đến vấn đề thuyền nhân VN. Một buổi sáng cô ta nhận được một vài cánh bưu thiếp của một người Việt Nam viết bằng tiếng Việt, gửi từ Đông Nam Á, nhưng cô ta không nhận ra người đó là ai, vì họ không ký tên nogoại trừ chữ "Nam," và cô ta không nhớ được đã quen biết với người này như thế nào.  Những lời viết nguệch ngoạc và ngắn ngủi trong bưu thiếp rất chân tình, làm cô xúc động.

“Câu chuyện bắt đầu từ đó.  Người con gái quyết định đi tìm chủ nhân những tấm bưu thiếp.  Những tấm bưu thiếp này do chủ nhân làm lấy, vẽ lấy, cho nên tiểu thuyết mới có tựa là “Bưu thiếp của Nam”
 -- Poscards from Nam. Đến cuối truyện, cô ta mới biết rõ người gửi là ai. Chữ "cuả" là quyết định cuả dịch giả.  

Người kể chuyện đi tìm tác giả của tấm bưu thiếp.  Sau khi bí mật được giải tỏa, cô ta hồi tưởng lại tác giả của những bưu thiếp đó là ai, ngay từ quá khứ cuả chính mình. Cô ta đã bị hội chứng "quên" do dồn ép cuả quá khứ. 

Một điểm đặc biệt nữa. Sau khi bí mật được giải tỏa, người con gái ấy tự làm một lời hứa với chính mình. Ở đây, trong cuộc ph̉ỏnv vấn cuả Đài VOA, tôi không nói rõ đó là lời hứa gì, nhưng hy vọng độc giả đọc bản tiếng Việt sẽ tự suy ngẫm về lời hứa đó. Thành ra truyện nói về tương quan, tương kết và xự tìm kiếm, liên lạc giữa hai người,một người viết và một người vẽ, cả hai người đều tự học và bị chia cách bởi Thái Bình Dương.”

Khi được VOA hỏi tại sao tác giả tiểu thuyết lại lấy bối cảnh thuyền nhân cho cuốn tiểu thuyết của mình vào thời điểm này, khi mà cuộc chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm nay, và vấn đề thuyền nhân Việt Nam hiện không còn là một vấn đề nóng bỏng thu hút tin tức trên thế giới, giáo sư  giải thích:

“Tác phẩm này chính ra tôi thai nghén từ năm 1985.  Lý do mà tôi chọn chủ đề và bối cảnh nói về thuyền nhân vì năm 1985 tôi đang làm luật sư ở vùng Hoa Thịnh Đốn.  Trong thời gian đó tôi làm thiện nguyện cộng tác với Uỷ ban luật sư đoàn chuyên về các dịch vụ thiện nguyện ở NY và Washington, đượ́c thà̉nh lập bởi Chính Phủ Kennedy.  Trong khoảng thời gian thập niên 80, vấn đề rất nan giải có liên quan đến người Việt là vấn đề thuyền nhân, và vấn đề người tị nạn ở các trại tị nạn Đông Nam Á. Cũng trong khoảng thời gian đó, có quyết định của bà thủ tướng Anh gửi trả một số người tị nạn Việt Nam về lại Việt Nam.  Đó là những vấn đề mà một số các luật sư thiện nguyện ở New York và Washington đã quan tâm đến. Khi ẩ́y, tôi đang làm việc về thương mại và tố tụng. Tôi  có ý định muốn bỏ việc làm một thời gian để đi làm dịch vụ thiện nguyện ở các trại tị nạn Đông Nam Á, nhưng sau đó tôi đã không làm được điều này. Vì thế tôi luôn luôn có thôi thúc muốn viết một cuốn tiểu thuyết dựa trên bối cảnh thuyền nhân.”  

Đài VOA hỏi:  

Đối với độc giả trong nước, nếu được đọc cuốn tiểu thuyết này, họ sẽ nghĩ sao? liệu rằng khi nhắc lại vấn đề thuyền nhân, nhắc lại những thảm trạng của thuyền nhân, liệu độc giả trong nước có nghĩ một số người Việt ở hải ngoại không muốn bỏ qua những thù hận trong quá khứ để hướng tới tương lai? Và cuốn tiểu thuyết này giúp gì trong sự hàn gắn giữa hai bên?

Giáo sư Nguyện giải thích rằng tác phẩm của bà hướng tới cả độc giả, hải ngoại lẫn trong nước, và hơn thế nữa văn chương tiểu thuyết và văn chương sáng tạo có giá trị cần phải đóng góp và nói lên một phần nào tri thức và trải nghiệm đời người.  Kinh nghiệm di dân vô cùng quí báu trong vấn đề tri thức chung của nhân loại, cần phải ghi lại cho thế hệ mai sau.

Bà nói rằng kinh nghiệm di dân và thảm cảnh VN cũng chính là kinh nghiệm lập quốc của nước Mỹ. Vùng đảo Ellis là nơi đón nhận những người di dân từ châu Âu. Nơi đây đón chào những con người đã bị bỏ rơi, bị đau khổ, đàn áp, muốn đi tìm một vùng đất sẽ đón nhận họ…” Bà trích lời một thi sĩ Do Thái từ đầu thế kỷ 20.  

Bà nói thêm (thời điểm chính phủ Obama): “Ngày hôm nay, vị tổng thống da màu đầu tiên đang làm việc ở Tòa Bạch Ốc, thì điều đó có nghĩa là giấc mơ “Mỹ” đã được toại nguyện.”

Bà nói từ thời lập qúốc cho đến giờ, đã mấy trăm năm, điều đó có nghĩa là chúng ta không nên nhắc đến những câu chuyện di dân của nước Mỹ?  Chúng ta có nên kết luận rằng kinh nghiệm của đảo Ellis, và kinh nghiệm người di dân từ Âu Châu đã lỗi thời, và vì thế chúng ta không nên sống lại những thảm cảnh của Âu Châu? Nhìn dưới khía cạnh và hình thức ấy, thì Postcards from Nam không bao giờ lỗi thời, mà cũng không gây chia rẽ.

Giáo sư Nguyện nói thêm rằng độc giả Việt Nam ở hải ngoại có tự do tư tưởng, có thể mở cửa đón chào độc giả người Việt trong nước.  Vì vậy, bà không nghĩ rằng có một ranh giới nào giữa độc giả hải ngoại và độc giả trong nước về khía cạnh tình người, khía cạnh nhân bản hay khía cạnh đi tìm cái đẹp cho nhân loại. Nếu có ranh giới, đó là do hoàn cảnh lịch sử, chính trị, xã hội, và bà cho rằng tất cả những ranh giới đó, nếu có, đều không đặt trên giá trị trường cửu, mà giá trị trường cửu theo bà phải là giá trị của con người đi tìm cái đẹp, giá trị chung của nhân sinh.

Bà nói rằng những thảm cảnh của con người cần phải được hiểu trong tinh thần nhân bản bởi bất cứ ai mang kiếp làm người, ở bất cứ hoàn cảnh hay bối cảnh nào. Việc hiểu thấu đáo và chấp nhận những khuynh hướng hay cái nhìn từ hải ngoại là ở trái tim độc giả yêu chuộng văn chương và sự trung thực của ngòi bút, và còn tùy thuộc vào vấn đề một tác phẩm có bị chính quyền cấm đoán hay không.

Theo bà, hải ngoại hay trong nước chỉ là ranh giới chính trị, biên cương mà thôi.  Môi trường của nghệ thuật và kinh nghiệm nhân sinh thì không hề có ranh giới, không gian tính hay thời gian tính.

Một trong những độc giả đầu tiên của cuốn tiểu thuyết  ở Paris, viết cảm nhận về cuốn tiểu thuyết này như sau, Đài VOA trích dẫn: 

‘Bài học mà ta phải rút ra từ cái đẹp trong “Bưu Thiếp Của Nam” không phải là bài học về tác phong anh hùng, đúng, sai, xấu, tốt, mà là bài học về tình người và về nguồn mạch tinh thần của một tập thể. Hiểu như thế, cái đẹp không hề áp đảo một ai, nhưng trái lại, trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, trong từng ngày, ở từng giây phút, nó đã an ủi và nâng đỡ hàng triệu người bị dìm trong tai biến, và có thể nó đã giải thoát vĩnh viễn một số cá nhân …’

Bản tiếng Việt của cuốn tiểu thuyết đã được in tại Nhà xuất bản Văn Mới ở California, và giáo sư Nguyện cũng hy vọng sẽ mang tới độc giả Mỹ cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh trong thời gian tới, giải thích vì sao người con gái trong Postcards From Nam" quên bẵng quá khứ về̉ tác giả các tấm Bưu Thiếp. 

LS Dương Như Nguyện, với bút hiệu hiện đại, Ng. Nicole Dương,  là tác gỉả bộ ba tiểu thuyết lịch sử -- trilogy -- nói về kinh nghiệm di dân cuả người tỵ nạn VN tại Hoa Kỳ.  Bộ ba tiểu thuyết này ra đời trong khoảng gần hai thập niên từ 2005 đến 2011, hiện giờ vẫn tiếp tục lưu hả̀nh trên mạng lưới, xuất bản bởi Lake Union, một nhà xuất bản Hoa Kỳ chuyên về tiểu thuyết thương mại và tiểu thuyết lịch sử. 

Bà cho bíết thêm: bộ ba tiểu thuyết đã ra đời là việc bà̉ trả món nợ nguồn cội, nhằm tặng song thân và gia đình, trong thời gian bà hành nghề luật cho tác công ty lớn cuả Hoa Kỳ̉ và dạy luật toàn thời gian.  Vì thế bà chưa hề có một ̣đại diện maị bản -- literary agent -- để hỗ trợ con đường víết văn.  Bộ ba tiểu thuyết được tìm thấy bở AmazonEncore, sau này là Lake Union, không hề được phiên dịch ra các thứ tíếng khác (ngoaị trừ hai dịch giả người Việt: tiến sỉ̃ Linh Chân Brown-(Mrs.) Đàm Quang Hưng, và Giáo Sư (Mrs.) Đoàn Khoách--Thanh Tâm (Nguyễn Thị). Bộ ba tiểu thuyết cũng không được gủi đi dư thi các giải thường văn chương ở Mỹ, ngọai trử ban tổ chức giải International Book Awards, họ tìm thấy tiểu thuyết cuà̉ bà ở một triển lãm cuả Amazon tại Nữu Ước.  Ủy ban này lập tức trao giải International Book Awards cho Mimi and Her Mirror và Postcards from Nam, năm 2011, hai cuốn cùng một lúc cho phân loại "tiểu thuyết đa văn hoá."  

"Việc tìm mại bản văn chương, tìm nhà xuất bản, dư thi các giải văn chương, tìm dịch thuật thị trường Âu Châu hay Á Châu, truyện phim, vân vân, sẽ phải là việc theo đuổi văn chương toàn thời gian sau khi tôi về hưu."  Có lẽ trễ, theo tuổi tác, nhưng đó là cái gỉá tôi phải trả vì quyết định muốn có sự độc lập cá nhân khi chọn nghề luật thương mại ở các công ty lớn, thập niên 1980, và dạy luật thương mại tại một đaị học tư cuả Hoa Kỳ, thập niên 2000.  Quyết định ấy đúng hay sai cũng vẫn là quyết định cuả tôi, một trong những người Việt trẻ, chưa ăn sinh nhậ́t 18 tuổi, năm 1975, đã chọn con đường ấy, ở thời điểm ấy."   





 

Sunday, October 14, 2018

FOR VIET READERS: interview by LY DOI from Vietnam about a novelist of the River Huong -- bai phong van cua LY DOI va nha van cua Song Huong

reprint under fair use exception to copyright


PUBLISHED ON PHAM THI HOAI'S TALAWAS, 2008 



FROM DNN:  Now is 2018. I have gone back, clarified, and updated a few points.  Hence, this 10-year-old interview is now up to date, as of today October 14, 2018


bilingual text 

Lý Đợi phỏng vấn Dương Như Nguyện (bản sao)

(see foonotes 1 and 2 at the end)
© www.talawas.org

http://www.phamthihoai.org/talawas/talaDB/suche.php?res=12485&rb=0102

Văn học Việt Nam

7.3.2008

tri'ch Dương Như Nguyện:
“Tôi là một cá nhân rất cương quyết nhưng lại nhạy cảm, một con người sáng tạo, lãng mạn và thích mạo hiểm, nhiều cá tính, nhưng vẫn trung thành với thông lệ và truyền thống. Đồng thời, tôi cũng đã từng gạt bỏ tất cả những thông lệ mà tôi cho là cổ hủ, gò bó tự do và sáng tạo của con người. Tôi là một phụ nữ rất tham vọng nhưng lại thờ ơ trước các tiêu chuẩn xã hội và các vấn đề danh vọng, tiền tài. Tôi chỉ chủ trương cầu tiến và luôn luôn đi tìm tuyệt đối, trong khi biốt rẩng kh̀̀ông có tuyệt đối cho nên chấp nhận đường đi không đến. Tôi mang nhiều bộ mặt khác nhau, trái ngược, nhưng từ trong căn bản rất chân chất và thuần khiết.” [1]

Nhà văn Dương Như Nguyện (Uyen Nicole Duong), tác giả của tiểu thuyết Daughters of The River Huong (Con gái của sông Hương) – cũng từng là một luật sư, một thẩm phán, một giáo sư – đã trả lời như thế trong bài phỏng vấn này. Trong khi cuộc phỏng vấn được đăng tải (3-2008) thì Dương Như Nguyện đã sửa soạn cho ra đời tác phẩm mới của bà. [2]

[Nam 2011 thi Nha Xuat Ban Amazon mua lai quyen phan phoi cuon tieu thuyet nay va tai xuat ban lan thu hai, thang 5, nam 2011, cung voi hai tac pham nua cua DNN:  Mimi and Her Mirror & Postcards from Nam (giai thuong 2011 International Book Award), tao thanh bo ba tieu thuyet noi ve lich su VN va su sup do cua Saigon.]


Dương Như Nguyện (Hình: Dương Như Nguyện cung cấp)

Xin hỏi phải gọi chị như thế nào đây: Nhà văn, Luật sư, Thẩm phán, hay Giáo sư?

Anh không cần phải gọi tôi bằng nhiều danh xưng như thế. Như Nguyện là đủ rồi.

(You don’t have to address me with all those professional titles. My Vietnamese name, Nhu-Nguyen, is fine.)

Sau khi bài phỏng vấn Dương Như Nguyện do nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thực hiện được link tới website talawas vào ngày 20-9-2005, thì tại Việt Nam, thông tin về một nhà văn nữ tài hoa, thông minh và sắc sảo - Dương Như Nguyện - được cập nhật nhiều hơn trong giới văn nghệ. Vì thế, trong bài phỏng vấn này, sẽ tiếp tục nhiều hơn vào tiểu sử, tâm tư tình cảm và chuyện của một luật sư, một giáo sư đại học.

Cảm ơn anh, nhưng tôi không dám nhận lời khen tặng. Việt Nam có biết bao nhiêu phụ nữ đẹp và tài năng. Đẹp đối với tôi là cái đẹp từ bên trong và cái đẹp của nhân cách. Đó mới là cái đẹp trường tồn. Vấn đề là cái đẹp và tài năng ấy được sử dụng ra sao cho tiến triển xã hội.

(Thank you so much for all those compliments, but I don’t deserve them. Vietnam is full of beautiful and talented women. When I say beauty, I mean inner beauty and beauty of character. That’s the only kind of beauty that lasts. It’s just a question of what can be done with all that talent and beauty for the good of society.)

Thưa chị, chị có vui lòng thổ lộ cùng bạn đọc về cái kỷ niệm năm 13 tuổi của mình không? Trước đó nữa, khi còn rất bé, chị có còn nhớ gì nhiều không?

Tại sao anh lại hỏi về năm tôi 13 tuổi? Anh có biết gì về tôi, mà chính tôi cũng không biết? Có thể lắm. Theo tôi nhớ thì năm 13 tuổi, tôi là một cô bé dậy thì, rất gầy, sống ở Sài Gòn. Tôi học rất giỏi và cuối năm học tôi bị ốm phải nghỉ học một thời gian. Nhưng vẫn đứng đầu lớp. Đừng hỏi tại sao. Chính lúc đó tôi cũng không hiểu tại sao nữa. Tôi giỏi  [co nang khieu] Việt văn và Anh ngữ, căn cứ vào điểm trong lớp [va so thich].

Trước đó thì cha mẹ tôi di chuyển từ Huế vào Sài Gòn, và tôi đổi trường học luôn luôn.

(Why mentioning the age of 13? Do you know something about me that I don’t? Maybe. To the best of my recollection, I was a very skinny teenager, living in Saigon. I was an excellent student, but toward the end of the school year, I was sick and had to miss school for a while. Yet I still topped my class, don’t ask me why. I myself did not know. Be that as it may, I excelled in Vietnamese literature and English, judging from my grades [and aptitude.]

Before that, my parents moved us from Hue to Saigon, and I changed school too often.)

Nhiều cô gái ở Huế, Quảng Nam lấy chồng vào tuổi 15, 16 [thời trước]. Chị ra đi có bị vướng bận gì chuyện “con tim” hay không?

Anh nói đúng. Nhiều thiếu nữ thời tôi, lớn lên ở Việt Nam, lấy chồng rất sớm. Năm tôi ra đi, tôi khoảng trên 16 tuổi --sinh nhật 17 tuổi ở Mỹ.  Mơ mộng và thích thơ văn. Tuy nhiên tôi khác biệt với những bạn bè cùng lứa. Ngay thuở đó, tôi đã tham vọng và không nghĩ đến chuyện con tim. Thế mà khoảng 2 tháng trước khi Sài Gòn mất, tôi gặp một chàng trai rất dịu dàng ở một… hộp đêm [dip le Giang Sinh].  Chỉ thế rồi thôi. (Mẹ tôi cho tôi đi học nhảy ballroom dancing để sau này đi về ngành ngoại giao, biết cách giao tế Tây phương.)

Năm lên tám, gia đình tôi từ giã Huế vào Sài Gòn. Lúc đó tự nhiên tôi có nghĩ đến hình ảnh cậu con trai Việt Nam rất dịu dàng, hiền lành, mà bất hạnh, [hàng xóm ở đường Công Lý va duong Le Van Duyet, Saigon [bay gio la Nam Ky Khoi Nghia va Cach Mang Thang Tam].] Cậu trai cũng gấy ốm như tôi. Chỉ có vậy thôi [toi dem hinh anh nay vao tieu thuyet].

(You are correct. Vietnamese women in my generation got married quite early. When I left the country, I was 16 going on 17. I was very romantic and loved literature. Nonetheless, I was very different from my peers. Even then, I was ambitious and did not think of “romantic love.” Yet, about two months before Saigon fell, I met a very gentle young man at a… dance club [during Christmas holidays]! But that was it. (My mother had me learn ballroom dancing in preparation for a diplomatic career – I was supposed to be trained on the social protocols of the West.)

When I turned eight, we moved from Hue to Saigon, and I thought of the image of a Vietnamese boy, my neighbors, very kind and gentle, yet unlucky. He was skinny like me. That was it. [I brought these images of the nice Vietnamese boy to my novella.])

Đến Mỹ, cảm giác ngay khi đặt chân xuống là gì? Điều gì vào ngày ấy còn để lại ấn tượng trong chị?

Nên nhớ tôi là một người tỵ nạn. Tôi nhớ mình buồn da diết. Cha tôi khóc, và mẹ tôi xỉu. (Tôi đem những kinh nghiệm này vào tiểu thuyết.) Tuy thế, nhưng sau khi đến Mỹ, tôi thấy bừng sinh khí. Tôi bảo với mình rằng trong nỗi đau khổ mất mát và tương lai vô định này, tôi đã bước vào đất hứa. Để được tự do. Tự do về vấn đề chính trị, và tự do bản thân. Ngoài việc thoát khỏi chế độ mới, thể chế Cộng sản mà tôi không quen, tôi sẽ không còn phải sống theo khuôn khổ chật hẹp của xã hội Việt Nam, ảnh hưởng văn hoá Khổng Mạnh Tống Nho, ảnh hưởng Trung Quốc, qua sự chà đạp phụ nữ.

(Keep in mind I was a political refugee. I remember the sadness. My father cried, and my mother fainted. (I brought this personal experience into my novels.) Even so, when I landed in America, I felt rejuvenated. I told myself that in all this loss and in the face of uncertainty, I had landed on my promised land. I would have freedom. Political freedom as well as personal freedom. I no longer had to live within the confines of neo-Confucianism imported from China -- a cultural jail that oppressed women.)

Chị đã phải bắt đầu việc học lại của mình như thế nào? Những khó khăn tất yếu phải đối mặt?

Tôi học giỏi ngay từ nhỏ. Không có vấn đề gì. Không có trở ngại ngôn ngữ. Ở Mỹ, tôi tự nuôi mình đi học bằng cách làm việc và có học học bỗng vì điểm cao. (Tôi đem kinh nhgiệm sống này vào tiểu thuyết của tôi.) Vấn đề khó khăn nhất là tôi không có ai nêu gương và hướng dẫn vấn đề nghề nghiệp sau này. Tôi cảm thấy lẻ loi.

(I have always excelled academically. No problem in college. No linguistic difficulty. I supported myself with work study and scholarships based on academic excellence. (I brought this experience into my novels as well.) The only problem was the lack of mentorship and career counseling. In that regard, I have always felt alone.)

Đến khi nào thì chị biết Anh ngữ và hoà nhập văn hoá không còn là vấn đề của mình? Hay hỏi khác đi, khi nào thì chị thấy mình hoà đồng được với những sinh viên, học sinh bản xứ khác?

Tôi hoà đồng ngay lập tức.

Chắc quý vị không ngờ là những vấn đề văn hoá hội nhập thường đến khi chúng ta già đi mà thôi. Nhưng cá nhân như tôi càng sống lâu năm ở ngoại quốc thì càng thấy rõ vấn đề xung đột hoặc lẻ loi văn hoá mà mình không nhận ra trong lúc trẻ.

(Cultural integration began immediately for me. You might be surprised to find out that cultural issues often come much later in life for immigrants, as they get older and have spent much more time away from their home culture.)

Còn việc học tập và ôn luyện tiếng Việt của chị như thế nào?

Việc tự nhiên. Tôi vẫn luôn có khiếu về ngôn ngữ, kể cả tiếng mẹ đẻ. Bố mẹ tôi là giáo sư ngôn ngữ và văn chương. Dĩ nhiên là tôi có mất đi một số ngữ vựng. Tôi nói và viết tiếng Việt theo lối trước 1975 của miền Nam, và vẫn còn cảm thấy bỡ ngỡ [va bat binh] trước ngôn ngữ của xã hội Việt Nam bây giờ.

(Natural. I have always had an aptitude and a love for languages, including my native tongue. After all my parents taught Vietnamese linguistics and literature. Of course, I lost some of the vocabularies. The Vietnamese I speak and write is pre-1975 South Vietnamese style. I feel bewildered (and somewhat shocked) by certain contemporary Vietnamese usage [in the Social Republic and even the exile community] today.)

Luật sư là một trong những ngành "hái ra tiền" tại Mỹ, chị chọn nó vì lý do này, hay là vì một lý do nào khác?

Tôi chọn ngành Luật vì đó là một thử thách cao nhất cho người di dân lúc tôi thuộc lứa tuổi [ngoa`i] đôi mươi [nam 1980].  Tôi đã không dùng ngành luật để làm giàu. 

(I chose to study law because of the challenge it offered a 20-year-old immigrant [in 1980].  I did not aim to use the law career to make a lot of money.)

Với chuyên ngành luật, chị nghĩ người Việt Nam [tại Mỹ] có tỏ ra ưu trội trong lĩnh vực này không? Tại sao?

Thế hệ luật sư đầu tiên không ưu trội, dù rằng có nhiều người kiếm được rất nhiều tiền vì họ độc quyền phục vụ cộng đồng [Việt] khi luật sư còn quá ít. Có nhiều vấn đề, nhất là nói và viết trước toà án. Tôi không gặp những vấn đề đó. Sự dễ dàng là do tuổi trẻ và năng khiếu. Những thế hệ sau ưu trội hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa thấy sự ưu trội mà tôi muốn thấy. Tôi đi tìm sự cầu tiến tuyệt đối ở mình và ở người.

[Ở thời điểm  2018, cộng đồng người Việt đã có thẩm phán liên bang, nhung phai doi 18 nam sau khi toi tro thanh tham phan nam 1992, va da co thu truong tu phap, cung nhu nghi si lien bang. Chua co bo truong, dai su, hay tham phan toi cao phap vien, hay thuong nghi si lien bang.  Toi nghi se con rat lau. Day la nhung tham vong toi co nghi toi, co kha? thi [feasible] vi thanh qua hoc van va su dac biet cua cuoc doi toi, nhung toi da tu bo vi muon co tu do ca nhan, vi hoan canh ca nhan va gia dinh, va vi khong co su huong dan nghe nghiep cua nhung nguoi thanh cong, di truoc.  Buoc dau tien trong viec toi tu bo nhung hoach dinh nghe nghiep chi'nh truo`ng la viec nam 1991, toi tu` bo? cuoc phong van cuoi cung de tro thanh chuyen vien xuat sac Toa Bach Oc, du da duoc tuyen chon lam dai dien cho cac tieu bang vung Tay Nam (trong do co Texas).  Day la diem ho^'i ha^.n doc nhat toi co trong doi ve^` su khuech truong nghe nghiep luat va ba'o chi' trong do`ng chi'nh -- ly do: nghia vu voi me toi va voi cong dong nguon coi. Toi da trinh bay nhung diem nay rat thang than tren trang FB cua toi ].  

(The first generation of Vietnamese lawyers in America, in my opinion, did not excel professionally, although many made a lot of money serving a captive audience – the community of first-generation Vietnamese. Many had writing and speaking issues especially in court. I have never encountered such difficulty, most likely due to my youth and perhaps aptitude. Younger generations of lawyers have excelled professionally, but not to the level I would like to see. I am a perfectionist and I demand more of myself and others.)

[As of 2018, the Vietnamese American community has had a federal judge (18 years after my judgeship appointment in Texas) and an Assistant Attorney General. No ambassador or head of a federal executive department or agency, U.S. Supreme Court Justice, or U.S. Senator.   I think it will be a long, long time before these goals can be achieved for Vietnamese Americans.  These were ambitions that I did think of in my formative years, after law school graduation, based on my record of academic excellence and the uniqueness of my life, but, between age 33 to age 43, I abandoned them due to privacy needs, family and personal situations, and lack of professional mentorship.  The first step in saying goodbye to these public service ambitions was my withdrawal from the White House Fellowship competition in 1991, after having been selected Regional Finalist representing the Southwestern States.  This was my only regret in my professional life: a failure of self-imposed noblesse oblige toward my beloved mother and our community.  I have written candidly about these points on my FaceBook account.]    

Chị viết văn trước khi hành nghề luật, hay ngược lại? Chị nghĩ, hai lĩnh vực này có điểm gì tương đồng hay không?

Ở bên Mỹ tôi viết văn trước khi trở thành luật sư. (Trước khi học luật, tôi là một ký giả, tốt nghiệp báo chí, và viết văn từ lúc đó.) Mặc dù chu trình sáng tác của luật học và văn chương không tương đồng, nhưng tôi đã làm cho chúng PHẢI tương đồng để sống theo kiểu tôi đã sống. Tôi có viết về luật học và văn chương sáng tạo trong tạp chí khảo cứu “xuyên bộ môn” (interdisciplinary) của Đại học Nam California.

(I wrote before I became a lawyer. The two fields are incompatible, but I made them compatible so that I could lead the life I’ve led. I wrote about this incompatibility and the compromise in a scholarly article on law and art, published by the Southern California Interdisciplinary Law Journal.)

Khi vào cương vị giáo sư đại học ở [City of] Denver, lúc ấy chị bao nhiêu tuổi? Độ tuổi trung bình của sinh viên theo học ngành này?

Tôi hành nghề luật sư 18 năm trước khi đi dạy. Năm đi dạy đầu tiên tôi đã 42 tuổi. Tuổi trẻ nhất cho sinh viên luật năm thứ nhất là 22, tuy nhiên, tuổi của sinh viên có thể từ 22 đến 60.

[O thoi diem 2018 thi toi da tu chuc o Dai Hoc Luat Denver de quay tro ve Texas voi cha me gia yeu cua toi, sau khi Bo Ngoai Giao Hoa Ky gui toi ve Ha Noi de dien giang voi tu cach la Hoc Gia Luat cua chuong trinh Fulbright do chinh phu My dai tho. Trong thoi gian phuc vu Fulbright, cac dai hoc luat o Taiwan va Hong Kong deu moi toi den dien thuyet, nhung chinh phu My va chuong trinh Fulbright giu toi lai o Hanoi, ngoai tru chuyen di dien giang luat thuong mai Hoa Ky o thanh pho Hue.  Truoc khi toi tro ve My, co loi moi cua dai hoc Can Tho, va toi phai bo qua.  Toi di hop Fulbright o Saigon va Da Lat voi cac dong nghiep tu My vao va vien chuc toa dai su My, vi the toi da co dip quay lai tham vieng hai thanh pho thuong yeu cua thoi tho au, nhung dac biet dai hoc Luat Saigon va Da Lat deu khong to chuc de toi dien giang.  Neu khong vi chuong trinh Fulbright va muc dich van hoa cua Bo Ngoai Giao My, thi toi se chang bao gio muon ve VN de giang day trong tu cach ca nhan.] 

(I practiced law for 18 years before I became a law professor, I was 42 at that time. The typical age of a first-year law student in America is 22, but the age group can range from 22 to 60.)

[As of 2018, i have long resigned from my professorship at the University of Denver, in order to return to Texas where my aging and ailing parents are, after having served as Core Program Legal Scholar for the U.S. government's Fulbright program, which sent me to lecture in Hanoi.  During that time, law schools in Taiwan and Hong Kong also invited me to speak, but the Embassy and Fulbright program kept me in Hanoi.  I was asked to lecture at Hue Law School, which I did, and, later, at Can Tho University but I had to leave for the U.S.  before I could visit Can Tho.  Although I attended Fulbright meetings in Saigon and Da Lat, and hence was able to visit these cities of childhood, I was never invited to speak at Saigon and Da Lat universities.  Without the Fulbright program and the U.S. government, I would never have returned to Vietnam to teach in my individual capacity.]

[Tai dai hoc Denver,] mỗi năm chị có bao nhiêu học kỳ? Mỗi học kỳ chị có bao nhiêu sinh viên? Có nhiều sinh viên người Việt [hoặc gốc Việt] học lớp của chị không?

[Regarding my law professorship at Denver:] Mỗi năm có hai cá nguyệt, tức là hai học kỳ. Mỗi học kỳ tôi dạy từ 50 đến 70 sinh viên, [toi da la 100]. Những lớp có viết luận đề thì tôi [thuong thuong] chỉ dạy dưới 8 sinh viên. Rất ít sinh viên người Việt. Từ trước đến giờ chỉ có hai em, một trai, một gái.

(A school year consists of two semesters. Each semester I might teach about 50 to 70 students [maximum 100]. I have had only two Vietnamese students, a man and a woman.)

Nếu được, chị đánh giá họ như thế nào? Có một nhược điểm chung nào mà chị thường nhìn thấy ở họ?

Tôi rất ngại nói về học trò của mình trước công chúng. Làm như thế tôi thấy không phải. Tôi rất hạnh phúc khi được quen biết gia đình của học trò Việt. Đó là vì sợi dây văn hoá và tình nghĩa giữa tôi và họ.

(I don’t want to comment on my students publicly, because it is not fair to do so. I must say that getting to know the family of my [Viet] students has been the special joy of my life. I attribute this to our cultural bond.)

Chị vào làm Ban quản lý điều hành Sở Học chánh Houston năm nào? Công việc cụ thể của nó là gì?

1979. Chính thức trở thành tổng giám đốc năm 1980, ở tuổi [ngoai] đôi mươi. Tôi trông coi tất cả các thiệt hại, bồi thường, bảo hiểm, liên lạc với luật sư biện hộ cho Quận Học Chánh (đứng hàng thứ 6 toàn quốc Hoa Kỳ), và chịu trách nhiệm một ngân quỹ 6 triệu đôla.

[Tu chuc vu nay, toi da rat de dang ung cu vao quan Hoc Chanh, hoac di vao moi truong chinh tri dia phuong thi du nhu Hoi Dong Thanh Pho (City Council), truoc tuoi 30, nhung toi khong co y dinh ay, vi sau khi tot nghiep J.D. ve Luat, toi quyet dinh nhan viec lam luat su o Hoa Thinh Don.]

(1979. Officially becoming Executive Director in 1980. I was in my early 20s. I oversaw all compensation, liability, and insurance programs, and liaisoned with the School District’s counsel. The Houston Independent School District is the sixth largest school district in the U.S. I was responsible for a $ 6 million budget.)

[From this position with the Houston ISD, I could have easily aimed for a career in local politics: for example, running for office to Houston City Council or Board of Education before I turned 30. But that was not my plan. After grduation from law school, I decided to begin the practice of law in Washington, D.C.]  

Còn khi làm Thẩm phán tại Houston (người Việt điều tiên làm thẩm phán tại Mỹ), chị có phải đối mặt với một vụ án nào gay go, thú vị không?

Tôi là thẩm phán thành phố (chỉ một nhiệm kỳ 3 năm) và là viên chức “án sát” phải duyệt lại các trát toà đi bắt người hoặc đi khám gia cư. Tất cả các trát toà này đều có liên đới đến Hiến pháp Mỹ, và vì thế có thể phức tạp và khó khăn. Tuy nhiên, viên chức “án sát” thường thường làm việc trong bóng tối, không được khen thưởng. Chỉ có khi nào làm sai thì mới “bị” đem ra ánh sáng mà thôi, và lỗi lầm lại có thể bị kháng cáo lên đến cả tối cao pháp viện Mỹ, vì đó là vấn đề hiến pháp.

(For only one term, a 3-year term, I was a municipal judge and magistrate. As magistrate, I had to approve and sign search and arrest warrants. All warrants were interesting and difficult constitutional matters. Yet, the magistrate often worked behind the scene without much recognition. But if the magistrate made a mistake, it would be exposed to the public light, and probably the error would go to the U.S. Supreme Court because of constitutional implication.)

Hỏi liên tục một số câu đời tư như thế, để đi đến câu hỏi chính: Nhìn lại những bước chuyển trong đời mình, chị thấy bản thân mình là người như thế nào?

Tôi là một cá nhân rất cương quyết nhưng lại nhạy cảm, một con người sáng tạo, lãng mạn và thích mạo hiểm, nhiều cá tính, nhưng vẫn trung thành với thông lệ và truyền thống. Đồng thời, tôi cũng đã từng gạt bỏ tất cả những thông lệ mà tôi cho là cổ hủ, gò bó tự do và sáng tạo của con người. Tôi là một phụ nữ rất tham vọng nhưng lại thờ ơ trước các tiêu chuẩn xã hội và các vấn đề danh vọng, tiền tài. Tôi chỉ chủ trương cầu tiến và luôn luôn đi tìm tuyệt đối, [trong khi biet rang khong co su tuyet doi tren coi doi nay, cho nen toi chap nhan DUONG DI KHONG DEN.] Tôi mang nhiều bộ mặt khác nhau, trái ngược, nhưng từ trong căn bản rất chân chất và thuần khiết.

(How do I view myself? I am a very determined yet sensitive individual, a romantic creative risk-taker, quite eccentric yet still faithful to conventions and traditions in so many ways. At the same time, I have been known to bypass conventions and to break traditions when I find them to be stale and restrictive of human freedom and creativity. I am a very ambitious woman yet detached from societal judgment – things such as fame and fortune have not motivated me. I am full of contradictions and multi-faceted, yet the core of me is very consistent and pure. In many ways, I am a purist, some may even say a moralist.)

[note that in the English text, the interviewee does not mention any perfectionist tendency, as in the Vietnamese text.]

Vấn đề thực sự đang truy vấn tâm linh của chị là gì? Có thể nói về nó hay không?

Con đường tâm linh của tôi quá riêng tư để đem bàn luận trong cuộc nói chuyện. Tôi luôn nghĩ đến những vấn đề anh đã nêu trên đây: nguồn cội, bản sắc, sự phát triển và trau dồi khả năng, tài năng, rồi tiềm năng, cũng như hạnh phúc cá nhân. Vì tôi nghĩ nếu không có hạnh phúc cho chính mình thì không thể phục vụ được cho tha nhân. Tôi không đi theo chủ trương sống khổ nhục tự đày đoạ chính mình. Nhưng tôi cũng không phải là người chỉ muốn hưởng thụ. Điều tiên quyết: tôi tin tưởng vào công bằng và công lý. Luật nhân quả.

(My spiritual quest is too personal to be expressed in an interview. I think frequently about all the things you mentioned: roots, identity, full development of talents and potential, personal happiness. A person must be happy internally in order to serve others. I do not subscribe to a masochistic philosophy of life. Nor am I epicurean. One thing for sure: I believe in equality and justice – cause and effect. One must take the consequence of one’s action.)

Với chị làm một người Mỹ gốc Việt thành đạt như bây giờ, và làm một người Việt thành đạt, nếu được chọn lựa, chỉ sẽ chọn bên nào?

Rất may mắn tôi không bao giờ phải đẩy mình vào hoàn cảnh chọn lựa khó khăn như vậy. Sống cho nên người thôi cũng đã nam giải rồi, nói gì đến người Mỹ gốc Việt, người Việt gốc Việt. Bị phân loại như vậy mà lại phải là người thành đạt theo tiêu chuẩn xã hội nữa thì rất nan giải!

(I am glad I never have to make those difficult choices. To be worthy as a human being is difficult enough, let alone being a Vietnamese American, a Vietnamese Vietnamese (any such identity?), or then a successful one in society’s standards, as opposed to a failing one!)

Trước khi vào phần văn chương, xin hỏi chị một câu tế nhị mà bản thân độc giả tại Việt Nam có vẻ quan tâm. Thu nhập và chi tiêu của chị như thế nào?

Thu nhập cá nhân ở bên Mỹ là chuyện rất riêng tư không nói trước công chúng. Tôi có thể nói lên điều sau đây và các đồng nghiệp của tôi sẽ công nhận: Tác giả văn chương (không phải tác giả thương mại) không kiếm ra đồng nào. Mỗi cuốn tiểu thuyết bán trên amazon.com, tôi chỉ có được 1 đôla. Giáo sư luật và nữ luật sư người thiểu số không làm nhiều tiền bằng các đồng nghiệp tương đương, và đây là dữ kiện đáng buồn của nước Mỹ. Tôi tiêu bao nhiêu à? Tôi luôn luôn tiêu quá nhiều vì chẳng bao giờ tôi lo nghĩ đến tiền bạc. Tuy nhiên, tôi chưa bao giờ tiêu đủ cho người và cho các công tác xã hội. Cái khó vẫn bó cái khôn. Trong quá khứ, tôi đã có thể chạy theo tiền bạc và trở thành vô cùng giàu có, đến bạc triệu, bạc tỷ đôla, nhưng tôi đã không làm điều đó. Có thể đó là ngu dại. Trong tương lai nếu tôi có đi kiếm tiền để cố ý làm giàu, đó chẳng qua chỉ là thử thách trí thông minh mà thôi, hoặc để có tiền làm việc thiện. Tựu trung lại, tôi chỉ làm những cái gì tôi thích.

[Thoi diem 2018, gia tri luong bo^?ng thu nhap cua mot LS hanh nghe voi kha nang va chuyen mon tuong duong nhu DNN (AV-rated; corporate/big firm background) toi thieu la 300,000 USD len den 1 trieu hoac hon nua. Tuy nhien, luat su kinh nghiem lam ve viec cong (public interest) tien luong chi khoang 50,000 hay it hon.]

Một trong những công việc mà tôi đang cưu mang hiện nay trong hoạt động bất vụ lợi là tìm cách giải quyết bằng pháp luật vấn đề buôn người ở Đông Nam Á. Tôi mong có thể công bố kết quả của công trình nghiên cứu này trong năm sắp đến.

[O thoi diem 2018 thi bai viet cua DNN ve te trang buon nguoi o Dong Nam A da duoc xuat ban boi dai hoc luat Seattle.  Cong trinh nghien cuu cua DNN duoc hoan thanh qua buoc dau cong tac voi truong cong phap quoc te cua Dai Hoc Denver, noi ma cuu ngoai truong Condee Rice da tot nghiep Tien Si.] 

(My income? In America, it’s a personal matter and should not be discussed in public. I can reveal this much: Literary writers (not commercial writers) hardly make any money. I make about a dollar for every copy of my literary novel sold on amazon.com. Law professors and minority female lawyers like me are underpaid. This is still a sad reality in America, and the profession knows this. How much do I spend? I always spend too much because I never worry about money. Yet I don’t think I have spent enough for the good cause and the good of others. The means still restricts the end. In the past, I could have become very financially wealthy – millionaire, billionaire, but I chose not to. Some say this is stupid. I think it is stupid in a way, looking back. What makes me rich has never been my income. If I ever go after money, it is only for the intellectual challenge of making it, or for the need of helping others. In the end, I will only do what I want to do.

[As of 2018, the annual salary for lawyers of my experience and background [AV-rated, corporate/big firm background] starts from $300,000 to a million or above. However, public interest lawyers make very little money, perhaps around 50,000 annually, or less.]

One of the very important topics that I am pursuing right now as part of my pro bono commitment is a proposal for legal solutions in dealing with the human trafficking problems in SouthEast Asia. I hope to publish my work in this area within a year.)

[As of 2018, my article on proposed anti-human trafficking measures has been published by Seattle University. The research project began as my participation in the endeavor started by the Graduate School of International Studies, from which former Secretary of State Condee Rice received her Ph.D.].  

Nói như quan điểm của bà Sandra Kjistra khi nhận định Daughters of The River Huong thì Dương Như Nguyện hoàn toàn có khả năng viết như Mỹ hay các nhà văn best-seller còn lại. Đúng là chị muốn đi độc lập, và không theo khuôn mẫu. Nhưng về kỹ thuật viết, những ý tưởng cần thể hiện, những tư tưởng muốn gởi gắm… chị cũng có thể nói đôi chút về nó?

Tôi không thể phát biểu cho bà Sandra, dù rằng tôi vẫn còn giữ mấy dòng chữ nhận định của bà ấy về bản thảo của tôi. Bà ta không phân biệt giữa tôi hay bất cứ người viết nào đã tìm đến bà ta. Rõ ràng là bà ta muốn tôi chạy theo nhu cầu thương mại của thị trường Mỹ, và khuyên tôi nên viết một cuốn theo kỹ thuật của Memoir of a Geisha (Hồi ky cua một Geisha). Về kỹ thuật viết thì bà ta chẳng bao giờ nhân nhượng cho tôi vì tôi là người Việt Nam.

Trong việc làm của tôi, tôi luôn luôn phải làm theo tiêu chuẩn chung của người bản xứ. Đúng ra, tôi đã bị đặt vào một số tiêu chuẩn cao hơn người bản xứ, chỉ vì tôi là một phụ nữ Á Đông cần phải thi thố, vì họ bắt mình phải thi thố và chiến đấu. Tôi tin giá trị đích thực văn chương là giá trị quốc tế, không phân biệt văn hoá. Tôi không thấy là tôi viết theo lối các nhà văn Việt Nam viết cho cộng đồng mình. Tôi không cho rằng mình viết theo lề lối của cộng đồng người Việt thế hệ thứ nhất. Tôi có đọc và thưởng thức văn chương Việt Nam trước 1975.

(I can’t speak for Sandra although I still have her handwritten note somewhere, commenting on my novel… I know that she did not distinguish me from any other writer who has come to her. It is clear from her note that she wanted me to change my novel into a format that resembles Memoir of a Geisha – something that met the needs of the American marketplace.

In my career (law and art both), I have always been held to the same standard as the natives. In fact, I have been held to a higher standard, simply because that’s what it takes for me to distinguish myself and gain the respect of the mainstream.

The art and craft of writing are based on a number of universal principles and standards. I believe in them and think good writing must transcend cultures. I really don’t subscribe to the writing style of Vietnamese writers writing in exile for their own community and ethnic audience, whatever that style is. I do enjoy Vietnamese literature that predated 1975.)

Tại sao chị chọn lựa làm một nhà văn [có vẻ] khép kín trong vòng khung của mỹ học và thẩm mỹ truyền thống Việt?

Câu hỏi có ngụ ý như thế nào? Tôi không phải là một nhà văn “khép kín”. “Thẩm mỹ” không biên giới. Và “truyền thống Việt” nếu đúng nghĩa là truyền thống sẽ sống còn và tồn tại. (Tôi hy vọng truyền thống tốt đẹp Việt Nam sẽ bất tử?). Văn hoá dân tộc tồn tại là cái gì mở rộng, không phải là một sự khép kín.

(What does that mean, “a writer restricted by the Vietnamese aesthetic traditions?”Aesthetics is never restricted. And Vietnamese traditions will live on; otherwise they won’t survive as traditions; they will just disappear! I hope that will not happen. What survives and exists across cultural borders is always an expansion, never a restriction.)

Chị nghĩ tính chất, hương chất Việt sẽ biến mất trong một nhà văn gốc Việt khi nào? Chị nghĩ, nếu con chị viết văn, tính chất Việt có xuất hiện trong tác phẩm của nó không?

Cái Việt tính trong văn chương của tôi được nhà xuất bản và người đọc trong dòng chính gọi là “the voice.” (Tiếng nói, hoặc qua nhân vật, hoặc qua lối tâm tình của chính tác giả. Trong dạng tiểu thuyết, thì tiếng nói phải qua nhân vật). Tất cả các độc giả của tôi có nhã ý đến tìm tôi đều nhận ra tiếng nói ấy. Hương chất Việt sẽ biến mất khi nhà văn không còn “the voice” riêng biệt của mình, không giống một ai khác trong dòng chính.

Nếu [toi co con,] va con tôi viết văn,  tôi un đúc cho nó thì Việt tính của nó sẽ không mất. Tiếng nói của nó sẽ là đặc thù riêng của nó, không giống ai khác.

(Perhaps what you refer to as “the Vietnameseness” in my fiction is what my publisher and readers in the mainstream describe as “the voice.”In the creative literature, the voice is very important. A writer of fiction must be recognized for “the voice” either through characters or from herself as the unseen narrator. I subscribe to the notion that in fiction, the voice must come from characters. Every reader who has sought me out after reading my work has recognized “the voice” in my work. I want that voice to remain unique. If it’s my Vietnameseness that characterizes “the voice,” then be it – that which distinguishes me as a writer in the mainstream.

If [i have a child,] my child chooses to write and if I contribute to my child’s writing career, then the Vietnamese characteristics will not be lost. However, my child’s voice will be uniquely his or hers, not like anyone else’s voice.)

Tại sao "Hương" lại được chị chọn làm motif để liên văn bản, nghĩa là viết miệt mài từ tác phẩm này sang tác phẩm khác?

Hương trở thành một thôi thúc. Một tiếng gọi tâm linh để đi đến một nơi chốn cao quý về tinh thần. Giống như miền đất hứa. Quê hương. Nguồn cội. Cái đẹp trường cửu. Vì thế, motif này bắt buộc phải là một sự nối dài. Từ Mùi Hương Quế đến Sông Hương là chuyện đương nhiên. Có một số độc giả Việt Nam cho rằng sông Hương là con sông địa lý, ở xứ Huế. Có vị còn hỏi tôi về dòng sông ở Huế vì bà ta cho đó là con sông của bà ta, chỉ vì bà ta sinh trưởng ở Huế! Sông Hương ở Huế đối với tôi chỉ là biểu tượng của biểu tượng. Tôi viết về con sống ở quá khứ. Của tuổi thơ. Con sông của linh hồn.

Thêm một điểm, ngẫu nhiên, mà tôi có viết về một người tôi cho rằng đã khai phóng nữ quyền ở Việt Nam, đi trước thời đại. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Cũng tên Hương.

[Do la bai dien giang luat "xuyen bo mon"/sach nghi luan: "Nguoi Phu Nu Vietnam: Chien Si va Thi Si" xuat ban boi Dai Hoc Washington] 

(Fragance is the motif of “the voice.”I also think of fragrance as the calling, the pursuit of internal and eternal nobility. What the mainsream describes as a sense of “noblesse oblige’”. Fragrance is also my sense of the beauty of culture. A promised land, never reached. It’s the guiding light for the return to roots. Such a motif naturally has to be continuing from one body of work to another. For the Vietnamese audience, I started with The Cinnamon Fragrance of the East and then moved on to the River Huong. I was surprised when certain Vietnamese readers kept thinking of the physical river in Hue, whom they claimed as “theirs.” These Vietnamese readers think narrowly of the geographical, physical location. One woman even quizzed me on the River in Hue. To me, the River in Hue is just the motif of a motif. To me, I wrote about the River of Memory. The River of Childhood. The River of the Soul.

Another coincidence. I wrote about a Vietnamese feminist (for lack of a better word): the poetess Ho Xuan Huong. She was ahead of her time. Her name is also Huong.)

[Ref. law/interdisciplinary review/book-lenght "The Vietnamese Woman, Warrior and Poet" published by the University of Washington.]

Chị nghĩ mình thuộc kiểu nhà văn nào?

Kiểu riêng của tôi mà thôi. Thành thật mà nói, tôi không đặt vấn đề chọn kiểu.

(I am my own stylist. Frankly I don’t make it an issue – what style.)

Lớp nhà văn trong nước và hải ngoại, chị có quan tâm đến ai không? Vấn đề tiền phong [avant-garde] trong văn học đang diễn ra trong một số ít tác giả người Việt, chị nghĩ thế nào về điều này?

Tôi không biết đủ về họ để nhận xét. Ne'u phải nói một cách tổng quát, tôi thấy Nguyễn Huy Thiệp có tài viết truyện ngắn thuần tuý dân tộc, rất hay, và bà Phạm Thị Hoài là một phụ nữ trí thức gan góc, viết tiểu thuyết theo kiểu nghị luận. Một trong những chuyên môn của tôi là phê bình văn học, nhưng tôi không đủ thì giờ viết. (Trừ năm tôi theo học Thạc sĩ ở Đại học Harvard; năm đó tôi viết rất nhiều bài phê bình văn học vì chuyên môn của tôi là phê bình văn học, sự tương quan giữa luật học và văn chương. Một trong những bài phê bình của tôi năm ấy nói về kịch bản Kiss of A Spider Woman của một nhà văn Nam Mỹ, sau này được làm thành film rất nổi tiếng ở Mỹ).

Ở Việt Nam sau này tôi thấy có Đỗ Hoàng Diệu với lối văn rất sống động, và cách sử dụng biểu tượng khá sâu sắc. Tuy nhiên, Diệu viết không đều đặn, có truyện được, có truyện cô cố gắng với biểu tượng nhiều quá. Và vấn đề tâm linh phụ nữ thì Diệu không đi đến cuối con đường. Người tôi thấy có tiềm năng quốc tế hon là Nguyễn Ngọc Tư. Điểm tương đồng là cả ba: Diệu, Tư, tôi, đều có viết về việc hãm hiếp một phụ nữ trẻ tuổi (tôi viết cả về việc hãm hiếp một thiếu niên) (hai cuốn tiểu thuyết đó tôi chưa xuất bản). Hãm hiếm trở thành biểu tượng của kiếp nô lệ. Những gì xảy đến cho con người khi bị mất quyền tự chủ. Lịch sử trở thành kẻ hiếp dâm, mà văn hoá là nạn nhân bị hãm hiếp.

[Vao thoi diem 2018, thi o My da co phong trao "ME TOO" noi ve van nan quay nhieu va ham hiep phu nu, bat dau o Hollywood va cao diem o nhung tai tieng gay ra trong viec tuyen chon tham phan toi cao phap vien thang 9-10 nam 2018.  Truoc do mot nam, tren FaceBook, toi co dat van de "ME TOO" trong the gioi cua nganh Luat, van chua thuc su thanh hinh.]
  
Tôi xin nói rõ, tôi không đọc nhiều. Chỉ đọc những gì đã gây sôi nổi cho cộng đồng người Việt, do bạn bè của tôi gửi đến.

(I don’t know enough about the new breed of Vietnamese writers to make any observation. If I have to say something, well… In general, I think that Nguyen Huy Thiep is talented in the domain of Vietnamese short stories, but his is confined to the Vietnamese culture. Pham Thi Hoai is a learned woman; her concepts are intelligent and reflect outspoken courage, but she is not a lyrical creative artist. More of a logical creative thinker or essayist, in my opinion. Literary critique and interpretation are part of my graduate training and expertise, but I don’t “practice” literary critique because of lack of time. The last literary critique I wrote was on the famous Latin American play, Kiss of a Spider Woman. It was made into a famous movie in America in the 1980s.

More recently, I noted the unique style of Do Hoang Dieu and her use of symbolism. But, in my opinion, the quality of her work is inconsistent. She can be so good in one short story and then she tries too hard in another short story. Her writings about the wrinkles of the female psyche do not satisfy me. I am quite impressed with the more universal and consistent talent of Nguyen Ngoc Tu. The thing I have in common with Dieu and Tu is the fact that I, too, wrote about the rape of a young girl (and even a young man) (I have not released those novels, not yet.) Rape becomes symbolic of the oppressed – what happens when a human is stripped of control [and is dehumanized]. The course of history can become the rapist, and the culture is the victim.

[As of 2018, sexual assaults of women have become the "ME TOO" movement in America, culminating in a scandal involving a U.S. Supreme Court Justice nominee. At the beginning of the "ME TOO" movement via Hollywood, I spoke on FaceBook of the "ME TOO" in the law profession, yet to emerge. That was a year before the U.S. Supreme Court nominee scandal.]  

I need to put in a caveat that I have not read a whole lot of Vietnamese [literary] works. I read what has invoked controversies because my friends sent the controversial works to me to read.)

Chị có mong mỏi mở rộng thêm hiểu biết về các tác giả người Việt không?

Khổ một nỗi tôi không có nhu cầu hay xa xi phẩm của thời gian để đi tìm họ. Tôi làm việc trí não mỗi ngày từ 10 tới 13 tiếng là thường, về những vấn đề không liên quan gì đến Việt Nam. Tôi chỉ có thể đọc những gì người khác đưa cho tôi để tham khảo ý kiến hay để làm quen. Tuy nhiên, tôi mong mỏi một ngày nào đó sẽ có một tài năng Việt Nam gây ảnh hưởng thế giới.

[Vao thoi diem 2018, thi cong dong goc Viet o My da co mot nha van doat giai thuong Pulitzer.  Nam 2012, giam khao Pulitzer quyet dinh khong trao giai thuong van chuong o My. Do la nam ma nha xuat ban cua toi xuat ban tac pham Mimi and Her Mirror  cua toi, nhung lai quyet dinh khong gui tac pham ay cho ban giam khao Pulitzer, ma khong he cho toi biet.  Luc do toi dang phuc vu Fulbright o ngoai quoc.  Nha xuat ban chi gui cuon tieu thuyet cua toi cho mot ban giam khao khiem nhuong, co tinh cach tu nhan, ho da trao giai thuong tieu thuyet da van hoa quoc te cho tac pham cua toi.]

(Unfortunately, for lack of time I don’t make a point to keep up with Vietnamese writers. I work cerebrally between 10 and 13 hours a day, quite often on matters that have nothing to do with Viet Nam. So I only read what I like, or what was given to me by others asking for an opinion, or to get acquainted. Yet, I do look forward to the arrival of a globally influential Vietnamese literary star!)

[As of 2018, a Vietnamese American writer has won the Pulitzer prize for his work on Vietnam.  A note:  in the year 2012, the Pulitzer Board decided not to give a literary award for novels.  That was the year my publisher should have sent my novel Mimi and Her Mirror to the Pulitzer Board, but it did not. Instead, it sent my novel to the modest and little known International Book Award panel, a private organization, which gave the multicultural fiction award to my novel Mimi, written about the fall of Saigon.]  

Với chị, như thế nào là một tác phẩm thành công? Thế nào là một nhà văn thành công?

Từ trước đến nay tôi chưa viết để được thành công hay bị chi phối bởi chữ thành công. Tất cả các nhà văn đều mong muốn được xuất bản, được đọc và được tiếp tục viết. Đối với tôi sáng tạo là con đường thiên lý. [Theo toi:] Một tiểu thuyết gia thành công làm cho độc giả xúc động thật sự, và tin tưởng tiểu thuyết là sự thật, cũng giống như một kịch sĩ khi sân khấu đã trở thành cuộc đời. Người viết thành công là người đã làm độc giả thay đổi, và suy nghĩ, mà không cần phải cổ võ, tuyên truyền hay bóp méo, xách động để ảnh hưởng người khác. Nói một cách văn hoá: đi tìm nghệ thuật tức là đi tìm sự thật của chính mình. Không thể có nghệ thuật trong sự giả tạo hay lừa dối.

(I have not defined nor tried to achieve success whenever I write. All writers want to be published and widely read. All writers want to continue writing. But the creative process is an unending journey. I think a successful novelist moves her readers and creates a sense of suspended disbelief, like any successful [performing] artist who must create an impact on her audience because to her, the stage has become life. A successful writer is one that has caused a change in her readers, making readers think more deeply about that which has moved them, without the need for propaganda or intimidation, or distorting the truth as a form of manipulating or forcing behavioral changes in others. A cliché: the pursuit of art is the pursuit of truth. There can never be art in pretense or deceit.)

Chị nghĩ văn học của người Việt hay gốc Việt ở hải ngoại đã có được những tác giả thành công như thế chưa? Nếu có, họ gồm những ai?

Tôi chỉ xin nói về cộng đồng di dân. Dù tôi không chủ tâm hay có thì giờ theo dõi đọc văn của nhà văn Việt Nam, nhưng tôi biết thị trường và không khí. Theo thiển ý của tôi thì chưa có sự tuyệt voi trong sáng tạo đúng mức như tôi muốn thấy, kể cả cá nhân tôi. Chưa có một khám phá đúng mức về tài năng. Chưa có tác phẩm để đời. Mà lại có một sự thoái hoá về chất lượng. Đó là vì vấn đề thương mại, hiện tượng tự xuất bản, môi trường khép kín, xô bồ và sự thiếu phương tiện của cộng đồng di dân. Không có đủ nhà phê bình trí thức và nghiêm túc, mặc dù có một số người tự phong mình là nhà phê bình. Giới đó hay viết bài "phê bình" dưới tiêu chuẩn "substandard", vì ganh ghét cá nhân hay vì muốn nổi tiếng. Họ đi vào ranh giới lạm dụng tự do ngôn luận bừa bãi và phạm luật, những người khác làm ngơ vì sự hạn hẹp và bưng bít của cộng đồng thiểu số.

Ngay cả dòng chính cũng phải lên tiếng báo động về vấn đề phê bình văn học hiện đại. Sự thoái hoá này xảy ra ngay cả trong xã hội dòng chính.

Điều mà tôi e ngại khi đọc văn chương Việt Nam là ở điểm này: Các cây bút Việt cố gắng nhiều quá, họ đâm ra gượng ép.

Nếu tôi đã đọc được gì về nghệ thuật viết văn từ dòng chính, đó là điểm sau đây: Viết văn là một chu trình tiềm thức… Trơn tru, dễ dàng, và không cần phải cố gắng quá độ thì những gì đẹp nhất của việc sáng tác mới thoát ra được.

(I confine my answer to the exile community. Although I have not followed the career of any particular Vietnamese writer, I know the general marketplace and ambiance. In my opinion there has not been a masterpiece. There has not been proper recognition or nurturing of talents.  For the past few decades, there has been an erosion of quality and standards due to consumerism, the self-publishing phenomenon, and the close-knit and non-selective nature of the exile community. There is a serious lack of qualified and competent literary critics, although there are self-claimed critics who write substandard “reviews” for personal vendetta and senstionalism. Those people walk the borderline of committing unprotected speech and tortious conduct.

Even the mainstream is complaining about the true meaning of today’s literary interpretation. There is an erosion of literary standards even in the mainstream.

The problem that I see in reading Vietnamese literary works is that many Vietnamese writers try to hard. They “will” their writing. What I have learned from creative writing is this: Creative writing or fiction is a natural process. The work streams out of you effortlessly. It’s almost subconscious. One cannot will one’s creative writing. Astute readers see and feel this right away.)

Với suy nghĩ như vậy, chị nghĩ gì về văn chương Việt trong 5, 10, hoặc 20 năm tới?

Anh nói văn chương trong nước hay ngoài nước? Tôi không dám nói. Tôi bi quan.

(Do you mean Vietnamese literature in Vietnam or in the exile community. Under either scenario, I am pessimistic.)

Trong tương lai, chị sẽ nghỉ viết văn trước, hay nghỉ nghề luật trước? Bao giờ và tại sao?

Sẽ nghỉ luật trước. Tôi đã về hưu bán thời gian năm 40 tuổi để viết. Sau đó tôi trở về với nghề luật một cách ngắn hạn và cuối cùng tôi dạy học. Đôi khi tôi nghĩ rằng đi dạy học là một sai lầm cho vấn đề viết văn. Cách độc nhất làm tôi về hưu với chuyện viết văn đó là ngày tôi ngừng thở. Nhưng nếu tôi còn đầu thai làm người ở kiếp khác thì chắc tôi lại sáng tạo tiếp tục.

(I will quit law first, definitely. I took semi-early retirement at the age of 40 in order to write. Later, I came back to the practice of law short-term and then was recruited to teach law full time. At times I thought law teaching was a mistake sofar as my literary life was concerned, because law teaching has not nourished my creative writing. The only way for me to retire from writing is probably death. And if there is life after death, in reincarnation, I probably will continue writing.)

Chị có bao giờ về Việt Nam chưa? Chị có bao giờ nghĩ về cái gọi là: Quê cha đất tổ?

Tôi có về Việt Nam. Với tư cách một luật sư đại diện cho thân chủ là các công ty Mỹ và cũng vô tình mà đi du ngoạn một chút. Bạn tôi nói: take the girl out of Vietnam, but you can’t take Vietnam out of the girl (Đem cô gái ra khỏi Việt Nam, chứ làm sao đem được Việt Nam ra khỏi cô gái!). Và như thế thì về hay không về tôi vẫn mang mảnh đất trong tim như một nỗi bùi ngùi muôn thuở.

[Nhu da noi o tren, nam 2011-12, Bo Ngoai Giao Hoa Ky gui toi ve Ha Noi da dien giang ve Luat My.]

Câu hỏi đâu là quê cha đất tổ càng làm tôi ngậm ngùi hơn. Quê cha tôi ở làng Phùng Thượng (thường gọi là làng Bún), huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây [có lúc gọi là Sơn Tây] (tôi viết truyện ngắn “Bóng Ma Hà Tây” là để tưởng niệm quê cha). Quê mẹ tôi ở làng Ngọc Anh, Huế (Thừa Thiên) (tôi viết tiểu thuyết Sông Hương để tưởng niệm quê mẹ).

Con đường tôi đi là con đường thiên lý. Tôi muốn đi vào lòng nhân loại rộng lớn, với mảnh đất trong tim, không nhất thiết phải đặc chân lên mảnh đất ấy mới tìm thấy nguồn cội và tình yêu bất tử?.

(I did return to Vietnam as a lawyer representing American businesses and as an accidental tourist. My friend says the cliché: take the girl out of Vietnam but you can’t take Vietnam out of the girl. So it matters not whether I return to Vietnam. I bear the homeland in my heart as a perpetual sense of nostalgia. So your question as to where home is for me just makes me poignant.  My father’s homeland is the village Phung Thuong, the province of Ha Tay, west of Hanoi (I wrote an award-winning short story called the Ghost of Ha Tay in dedication for the fatherland). My mother’s homeland is the village Ngoc Anh, in the outskirts of Hue (I wrote the novel River Huong in the image of the motherland). The path I travel is an unending journey. I want to travel the universal heart of humankind, carrying the homeland in my own heart. I don’t necessarily have to live on the land of Viet Nam to embrace my homeland.)

[As mentioned above, in school year 2011-12, the Fulbright Commission of the U.S. Government sent me to Hanoi to lecture on U.S. laws.]

Cuối cùng, một suy nghĩ như là châm ngôn sống của chị; cũng như về việc trả lời bài phỏng vấn này?

Đừng bao giờ từ bỏ con đường thiên lý. Con đường chỉ đẹp khi nó là con đường thiên lý. Tôi nhớ câu, triết lý là một cố gắng “tụ tĩnh” của một người đi. Người cầm viết chính là kẻ lữ hành minh mẫn.

Về bài phỏng vấn của anh: tôi nói chuyện với anh dù chúng ta cách nhau một cái biển và chưa bao giờ gặp mặt; vì anh còn trẻ, anh làm thơ; và vì tôi và anh sinh ra cùng một chỗ: Quảng Nam. Chúng ta cùng quê quán. Năm anh sinh ra đời ở Quảng Nam thì tôi tốt nghiệp đại học ở Mỹ. Hơn nữa, tên anh là "Đợi", như "Đợi chờ". Cả hai chúng ta vẫn đang chờ đợi?

(My motto: never give up the unending journey. What makes the journey meaningful and beautiful is the fact that it is forever unfinished. A writer is a traveler. I remember a saying in French: Philosophier c’est etre en route. A writer is that philosopher.

What do I think about the interview? I did it because you are young, you make poems, and you and I were born in the same place: Quang Nam. We share the same birthplace. I graduated from college the year you were born. Further, your name is “Doi.” It means “Waiting.” Can I say we are both still waiting?)

Trân trọng xin lỗi chị vì sự phỏng vấn đường đột này. Chúc chị cùng gia đình sức khoẻ, bình an.

Cảm ơn anh và chúc lành cho anh. [Chuc anh luon luon duoc nhu nguyen!]

(My thanks and best wishes to you. May All Your Wishes Come True.) Nhu Nguyen.


Bài phỏng vấn và cuộc nói chuyện này do Lý Đợi thực hiện qua email, kéo dài quá nhiều buổi, bắt đầu từ ngày 28-9-2005 đến ngày 20-2-2008. Lý Đợi sinh năm 1978 tại Quảng Nam, Việt Nam, nhà thơ, thành viên của nhóm Mở Miệng - gồm Lý Đợi, Bùi Chát, Khúc Duy và Nguyễn Quán, sống và làm việc tại Sài Gòn. Bài phỏng vấn này đã được sự chấp thuận của Nhà xuất bản Ravensyard, nơi xuất bản tác phẩm Daughters of The River Huong (Con gái của sông Hương).

Bài phỏng vấn này do Lý Đợi thực hiện trong tư cách cá nhân, không tuỳ thuộc vào cơ quan hay hệ thống truyền thông nào. Nơi in là tạp chí talawas, và Dan Duffy’s Vietnam Literature Project. Muốn trích dịch hay đang tải phải có sự đồng ý bằng văn bản của người phỏng vấn, người được phỏng vấn, và Nhà xuất bản Ravensyard. Thi sĩ Lý Đợi đã đồng ý với các điều kiện này. Cuộc phỏng vấn vô vụ lợi, và không có thù lao.


Notes

(Interview of Duong Nhu Nguyen (Uyen Nicole Duong) requested by Ly Doi, a young poet, a member of the Mo Mieng [“Open Mouth”] group, which includes Ly Doi, Bui Chat, Khuc Duy, and Nguyen Quan. Ly Doi was born in Quang Nam, Vietnam, 1978). He lives and works as a free-lanced writer in Saigon. This interview has been arranged by Ravensyard ltd, publisher of Daughters of The River Huong.

This interview is conducted by the poet Ly Doi in his individual capacity for exclusive publication on Ravensyard’s website. Talawas magazine, and the Dan Duffy’s Vietnam Literature Project. Any use or republication of this interview in any form or manner, on any other forum, will require the prior written approval of the interviewee, her publisher and her interviewer. The poet Ly Doi has given written consent to this exclusivity. There is no royalty earned or paid.)

© 2008 talawas


[1]Thực hiện bằng tiếng Việt, nhưng phần trả lời thì bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nếu mọi việc đúng như kế hoạch, trong thời gian tới, Dương Như Nguyện sẽ trả lời tôi thêm một bài phỏng vấn nữa về vấn đề tự do ngôn luận, và tự do báo chí tại Mỹ.
[2]Như đã thương lượng với người trả lời phỏng vấn, trong bài này tôi sẽ gọi nhà văn Dương Như Nguyện là chị.