Friday, October 5, 2018

chien tranh VN--the Tet Offensive of 1968: memoir of a South Vietnamese soldier and the sufferings of Hue


 HUẾ, TÔI VÀ MẬU THÂN.....
Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán.


Một bản nhạc hay, người người muốn ca và nghe mãi mãi, một bài viết hay, người người muốn đọc. Bài viết này nói về những người lính TQLC đã chiến đấu và hy sinh để chiếm lại Kỳ Đài cho Huế.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm VC tàn sát đồng bào Huế, đặc san Sóng Thần TQLC xin phép đăng lại bài viết này như một nén nhang dâng lên các oan hồn dân Huế và anh linh 2/3 chiến sĩ Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 1/TQLC.
Cám ơn tác giả, chúc Ông thọ như tác phẩm../

Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết Giáp và Xóm Mới Gia Ðịnh xong xuôi, Quái Ðiểu Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến về nằm dọc đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ khuya họp Tiểu Đoàn, 2 giờ sáng có mặt tại Tân Sơn Nhất, 4 giờ sáng lên máy bay đi, đi đâu không biết. Ðồ khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi trường rồi hay. Ðó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lũng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại đằng sau một Sài Gòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc máy bay C.13O khổng lồ nuốt gọn 8OO Quái Ðiểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.
-Ði đâu bây?
– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.
Lượm Ðại Đội Trưởng Ðại Đội 1 (dân Nha Trang) trả lời. Tôn Ðại Đội Trưởng Ðại Đội 2 là dân Ðà Lạt, cãi:
– Ðà Lạt.
Phán Phu Nhơn nói:
– Ði đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.
(Khi vào quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội, Huế.. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, qua tiếng thét trong máy truyền tin, cái tên ngụy trang “Phu Nhơn” ra đời, nghe thật lạ tai!)
– Máy bay chi bay mãi ri bây?
Thời tiết thật xấu, và rồi bánh phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ dồn ra khung cửa sổ máy bay. Phú Bài! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều quấn Poncho đứng nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Giạ Lê, An Cựu.
Phú Bài đó, Tịnh Tâm đó, Cầu Kho đó, Mạ, dì, chị và em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học kéo về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.
Mười giờ sáng, đoàn GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Giạ Lê, đồng bào hỗn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa. Dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài, binh sĩ Nhảy Dù từng toán dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi, như lo sợ giùm chúng tôi. Mạnh, Ðại Úy Nhảy Dù, cùng khóa cho tôi biết:
– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi. Thừa (cùng khóa) chết, Phạm Như Ðà Lạt bị thương…
Mạnh khắp người băng bó đang được hai đệ tử dìu đi bộ về phi trường Phú Bài. Mạnh tiếp:
– Phán, mày cẩn thận. Không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết thành phố, Ðại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ, chỉ còn cái lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 tại Mang Cá*.
(*Sau này tôi được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Trưởng kẹt nặng nên Đại Bàng Lê Quang Lưỡng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù đã xua quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêng mình chào Ông một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút nào tả nổi này. Ðể đáp trọn tình nghĩa, Lữ Đoàn của Đại Bàng Lưỡng cũng hao hụt nặng nề).
Ðoàn xe dừng lại bên hông đại học Văn Khoa, cách con đường là trường Kiểu Mẫu mới xây, đối diện là đài phát thanh Huế, và trước mặt là cầu Trường Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ắp kỷ niệm.
Nhìn qua chợ Ðông Ba và phố Trần Hưng Ðạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập, những cột khói ngút trời cách khoảng. Từ đầu đường đến cuối đường Trần Hưng Ðạo không một bóng người. Nhìn bên phải là cầu Gia Hội vắng tanh, những cột khói khác vươn lên… Cả thành phố đã chết, Huế tôi tang thương đến thế sao! Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang đã cuốn lấy Huế.
Xuống tàu tại chân cầu Trường Tiền, xuôi dòng Hương xanh biếc ngang Gia Hội, quẹo trái sông Hang Bè, cầu Ðông Ba đó, có tiệm La Ngu ngày xưa chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống ngang tiệm gạo Mụ Ðội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi qua đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Qua trường Bình Minh, nơi tôi học năm Đệ Tam, nhiều kỷ niệm đẹp. Ðến Bao Vinh, dân chúng nhốn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.
Tôi hướng dẫn đơn vị vào Mang Cá Nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Ðịch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiễn 107 và 122. Tất cả nằm sát bờ tường để tránh pháo và tìm chổ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung Úy Ðại Đội Phó, kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung Úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân Khóa 19 Võ Bị Ðà Lạt, thủ môn đội tuyển Nha Trang, đúng là đa năng đa hiệu.
Tôi dự buổi họp Tiểu Đoàn khẩn cấp và quan trọng. Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh:
– Phu Nhơn rành địa thế dẫn đầu, 8 giờ sáng mai xuất phát. Kế tiếp là Tôn, Ðại Đội 1, Lượm Ðại Đội 2, tiếp theo là Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cùng Ðại Đội Chỉ Huy, sau cùng là Tòng Ðại Đội 4. Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là trường tiểu học Trần Cao Vân. Trước trường có thành Quân Cụ, vào khoảng một đại đội ta đóng ở đó, không biết còn hay mất.
Phán hỏi:
– Còn phi trường Thành Nội thì sao? Tình hình trong Ðại Nội, Thiếu Tá có nắm vững không?
– Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa Thành Nội tụi nó đều kiền và chốt rất chặt. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, cửa An Hòa, cửa Ðông Ba, Kỳ Đài Phú Vân Lâu v.v.. tụi nó đều chiếm hết.
Trong óc tôi, một bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn và an toàn nhất cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới trường Trần Cao Vân, nơi từ 9 tuổi đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng, nay tôi đang tìm một con đường không có máu để cho anh em chúng tôi đi.
Tám giờ sáng, tất cả gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước đường từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó Mạ tôi, dì tôi, chị tôi và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không?
Thiếu Uý Duật, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 dẫn đầu. Duật xuất thân Khóa 21 Ðà Lạt, hăng say, gan, thích xóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phán và Ban Chỉ Huy Đại Đội kế tiếp. Thiếu Uý Nghênh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1 tiếp theo. Nghênh xuất thân từ “Commando Du Nord”, kinh nghiệm, gan lỳ, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Kế đến là Thượng Sĩ Nhất Mã Khện, Trung Đội Trưởng Trung Dội 3, xuất thân Commando trong Nam, rất gan lỳ, ít nói, mê rượu, không mê gái. Sau cùng là Thượng Sĩ Nhất Hải, Trung Đội Trưởng Trung Đội súng nặng. Hải xuất thân “Commando Du Nord”, người Nùng, lỳ lợm già dặn chiến trường, không rượu, không gái và không thuốc lá.
Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở, thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Ðội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong… Những tiếng nói đó đây:
– Anh Phán đó tề! Anh Phán! Anh Phán…
Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi.
Con hẻm sát hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, dì, chị và em tôi đó, xao xuyến quá! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt:
– Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi.
Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị thiên đường:
– Con xức cho khỏi gió.
Lính đi ngang hỏi nhau:
– Mạ Ðại Úy sao đầu trọc lóc vậy bây?.
– Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy.
Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại:
– Nhà mình có răng không Mạ? Bà con thân thuộc có ai bị chi không?
– Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng hai trái nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chỉ không biết đi mô.
Chỉ là bạn tôi xuất thân Khóa 17 Võ Bị Ðà Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:
– Thôi con đi, Mạ và gia đình đừng lo cho con.
Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.
Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi với trung đội đầu.
Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Ngự Ðạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng tôi không đi con đường này. Tiếp tục đi thẳng qua một con hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cắp me, nào trộm sấu, nào hái xoài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu… Con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu khôn quên.
Ðến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Thành Nội dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách:
– Con đường ni bị bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình ở Ðại Nội bắn ra.
– Còn sân bay Thành Nội ra sao ôn, có ai khôn?
– Ðánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa.
Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật: Băng qua khỏi con đường này, đến một xóm nhà, qua một cái cống thì bên trái là thành Quân cụ. Nghênh và Mã Khện yểm trợ hông mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi. Con đường chỉ có 5 thước mà hơn một giờ mới vượt qua với 6 thằng em rớt rụng trên mặt đất. Lần mò theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, phi trường vắng tanh. Tôi bảo Duật:
-Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia cống, sau đó cho tất cả con cái mày qua rờ vào thành Quân Cụ, chờ tau lên.
Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với bên trong. Tất cả con cái nằm sát thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, Field -Jacket, giây ba chạc, không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi. Thằng đệ tử tôi gọi lớn:
– Ê! Thủy Quân Lục Chiến đây.
Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào tới trong đồn, ông trưởng đồn nói tiếng Huế đặc sệt, ông là Trung Uý Cát, thủ môn nổi tiếng của Huế:
– Ðại Úy ơi, 7 ngày không ra vào nổi, nó bao hết. Trường Trần Cao Vân, Ðại Nội, xóm nhà trước mặt và bao quanh đồn tụi nó chốt hết. Nhà bảo sanh sau lưng trường cách một cái hồ tụi nó cũng chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi, không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu được, đủ loại: 61, 82 hỏa tiễn 107, 122. Tôi ráng cố thủ đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng.
Tôi trở ra báo cáo về Tiểu Đoàn, lệnh của Tiểu Đoàn Trưởng:
– Phu Nhơn chiếm cho bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Chỉ Huy sẽ lên ở trại Quân Cụ. Quan sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái am lên đồng, bên cạnh là quán hớt tóc lợp tranh chỉ có một ghế ngồi. Sát đó là ngã ba đường, một đường chạy lên cửa Sập, một chạy về trường Ðào Duy Từ và một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lố nhố bên trong trường. Duật phải chiếm am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B.40. Tôi ra lệnh Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong am không một tổn thất. Tôi gọi Thượng Sĩ Hải đem hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật để Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiệm, Mã Khện đã chiếm được một lớp của trường. Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ. Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học, không sao, có thành của các lớp học che chở.
Tôi kêu Sự :
– Pháo binh có chưa? Kêu về đại bàng Thanh Hoá cứ bắn vào góc thành cho tau.
Ðến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có 7 đã lót đường cho mục tiêu đầu và 3 bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 đến:
– Nhắm ngay vào góc thành, tụi nó bắn rát quá cứ “phơ” cho tau, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ.
Qua một vạt đất trống, trong một ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló. Duật quay 57 nhắm thẳng:
– Nhột quá, cho em bung cái nhà này đi.
Tôi bỗng thấy có bóng đàn bà, tôi la lớn:
– Khoan bắn, nhà thầy Tiềm.
Rồi tôi băng qua đám đất trống đến nhà gặp cô và các cháu. Không thấy thầy tôi chào cô và giới thiệu tôi học Sử Địa với thầy ở trường Bồ Ðề và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ này vẫn chưa có pháo, làm sao khóa góc thành đó lại. Duật bảo con cái đào hầm hố thật kỹ, tôi dặn:
– Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Đoàn lên.
Tôi cùng đám đệ tử lúp xúp chạy đến tiệm hớt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội. Tôi chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nửa phần thân thể, vừa bị thương nặng lại vừa sanh ra một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé, trông giống như con rắn mối. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đứa bé ngay và chuyển người mẹ về đồn Quân Cụ cho bác sĩ Tựu cứu giúp.
Ðến lúc ấy đại đội tôi đã có 13 chết, 3 bị thương nặng để trải thảm cho đơn vị.
Tối đó, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn Trưởng cho Ðại Đội 2 của Tôn và Ðại Đội 1 của Lượm dưới sự chỉ huy của đại ca Ðã, Tiểu Đoàn Phó, chiếm nhà bảo sanh. Ðoạn đường có 30 thước, cách một hồ nhỏ mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu. Sau 8 tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà bảo sanh, Tôn bị thương ngay từ phút đầu, Lộc Ðại Đội Phó lên thay.
Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường rộng vừa đủ cho xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi ray rức lê thê, thỉnh thoảng cơn gió thật lạnh thổi qua. Có những trận tấn công chớp nhoáng của địch vào Ðại Đội của Lượm và Lộc đều bị đánh bật lui. Ngược lại ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia nhưng không chiếm được thêm một tấc đất. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ. Lượm bị hao hụt nặng, Phu Nhân lên thay. Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn bắn xuyên mũ sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Đoàn. Tối đến pháo địch đủ loại nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường, sình lớn mà không lấy được. Phía bên kia bốn năm xác địch vẫn để yên, tụi nó cũng không dám ra lấy về.. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.
Từ căn nhà hai tầng cuối đường nhìn xéo từ nhà bảo sanh, một thượng liên và và trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xỏa dài nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới đâu thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn hai phát M16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.
Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bị bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy chửi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo của tụi nó:
– Bồ câu hết thóc!
Tôi nghĩ ngay tụi nó đang thiếu đạn, nếu cứ nằm như thế này, một lúc nào đó tụi nó tập trung tấn công, mình cũng sẽ bị mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: “Nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình”. Tôi trình với Tiểu Đoàn Trưởng:
– Thiếu Tá cho tôi luôn thằng 2 để tôi tấn công tụi nó. Tôi thấy tinh thần anh em xuống quá và sức khỏe ngày càng hao hụt.
Tiểu đoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhơn năn nỉ:
– Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi rút về. Mình phải chứng minh cho tụi nó thấy mình còn đủ sức chơi tụi nó, thời tụi nó không dám tấn công mình.
Tiểu đoàn trưởng nói:
– Làm kế hoạch xong cho tôi hay.
Tại hầm của tôi anh em đang chờ, họ gồm: Lộc Ðại đội 2, Sự Ðại đội phó của tôi, Duật, Nghênh và Mã Khện. Tôi nói:
– Nằm chờ lâu tau chán quá, chỉ muốn qua đột kích tụi nó rồi rút về.
Tất cả im lặng, tôi tiếp:
– 4 giờ sáng mai mình đột kích, nếu giữ được vị trí thời tau cho tràn luôn. Bây giờ tau chọn 4 toán:
-Toán 1: Phán, Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy.
Toán 2: Duật và 3 người thật nhanh và gan dạ.
Toán 3: Nghênh và 3 người.
Toán 4: Thượng Sĩ Nhất Hải và 3 người.
Tất cả trang bị thật nhẹ: mỗi người 20 quả lựu đạn và hai băng đạn cong ráp ngược cho M16.
Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ đường, khi thấy khói xanh thì lùa tất cả tràn qua. Nếu thấy khói màu vàng, yểm trợ tối đa cho tụi tau dọt về. Sự và Lộc hãy về lo cho con cái, đúng 4 giờ sáng sẵn sàng tại vị trí.
Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết
– Tau theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn. Do đó tau quyết định cuộc đột kích hôm nay.
Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:
– Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi. Riêng ông Hải, tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần này đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép và tôi hứa rằng tôi không nghĩ là ông thiếu can đảm.
Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:
– Ðại úy cho tôi ở lại vị trí.
Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ Sĩ Nhất Mười. Tôi tiếp:
– Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi.
Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị. Chiều hôm đó, lúc 4 giờ, các toán trưởng lên gặp tôi, có thêm Trung Úy Sự. Tôi hỏi lần chót:
– Có ai xin ở lại cho tôi hay.
Không ai trả lời. Tôi căn dặn Sự nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao và khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa ba toán trưởng bò đến hầm trú ẩn của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:
– Cái thứ nhất gần ngã tư là mục tiêu của tau, cái thứ hai kế tiếp có hàng rào là của Nghênh, căn thứ ba cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ tư có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hãy quan sát cho kỹ và cố chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo miễn sao thích hợp thôi..
Tôi tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi. Căn nhà bằng gạch có nhà trên và nhà dưới, kế đó là cầu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xi măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó. Tôi quay lại nói:
– Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Ðúng 4 giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định.
Trở lại vị trí, tôi dặn dò Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy:
– Tối nay miễn gác, 3 giờ sáng mai gặp tau ở đây.
Sau đó tôi đi gặp Tiểu đoàn trưởng để trình bày kế hoạch. Ông nói:
– Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ!
Tôi nói:
– Nếu Thiếu Tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa tụi nó chỉ cần ho là lính mình chạy hết.
Cuối cùng ông chấp thuận:
– Nhớ là có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt.
Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có gì ngoài đoạn đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới rồi chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ triền miên cho đến 3 giờ sáng.
Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn. Bốn giờ kém mười sáng, toán tôi có mặt tại tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa xứ Huế có dư âm cái lạnh của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau. Gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được.. Chuẩn bị! Tôi cảm thấy hồi hộp, chỉ cần bốn cái nhảy vọt là qua bên kia đường nhưng khó như đi lên trời vì con đường này là con đường tử thần làm ranh giới bên ta và địch, là hai mươi ngày trời không nuốt nổi 5 thước đất. Rách nát bao nhiêu cũng vẫn không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong, tôi phóng vụt qua ôm bờ giếng. Kế tiếp là Ðiểu, Việt, Can, Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm mặc dù trời lạnh như cắt. Ðiểu và Can chiếm cầu tiêu. Bỗng một loạt đạn thật giòn và thật gần, tôi quay nhìn ra đường. Phúc và cái máy nát mình nằm trên mặt đường nhựa, dưới làn đạn mịt mùng của địch. Tôi hét lớn:
– Dư, Việt chiếm nhà bếp.
Tôi theo sát lên cầu tiêu bên cạnh Ðiểu và Can. Súng và pháo nổ dồn dập, một B.40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miểng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá nên tôi cùng Ðiểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:
– Ðiểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ. Ðể Việt ở lại, tôi và Can cũng lên nhà trên. Ðiểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sổ nhìn ra vườn có nhiều luống khoai lang.
Trời sáng hẳn, tôi lắng tai chẳng nghe nhà bên cạnh có gì cả bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Duật, Nghênh, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi. Tôi nhìn thẳng vào mấy ổng rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn tiếng, mấy ông kia gật đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lớn nổ khắp nơi và nhất là bên phía tay mặt tôi. Tôi biết rằng tụi tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:
– Thấy gì không Dư?
Dư lắc đầu, tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài. Tôi đoán khoảng 7-8 người đang ở trong một cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào ào vào cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía các luống khoai, tôi đếm đủ 11 người đang bò qua, kaki Nam Ðịnh, súng AK và B.40, cách vách tường khoảng 20 thước, 15 thước rồi 10 thước. Tôi đưa súng lên lên định bóp cò thì Dư kéo lại và ra dấu dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt. Dư cũng thế, bốn lựu đạn ném ra cùng lúc, tiếng nổ xé trời, rồi bốn trái tiếp theo. Bên ngoài tường, tiếng hét lớn rồi tiếng rên và sau đó im lặng, tụi còn lại bò sát vào chân tường. Nhìn ra cửa, 5 xác nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:
– Chết em, Ðại uý!
Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay mặt đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ, nơi Dư đứng có một lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới: nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát bụng Dư mà nhả đạn. Tôi bắn một loạt M16 ra cửa sổ, và cứ thế hết quả này qua quả khác tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường.
Hai thằng em đã hy sinh, còn bốn thầy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải của tôi, súng vẫn nổ dữ dội. Ðến 10 giờ 30 sáng tôi cho Ðiểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Ðiểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau mười phút đi bộ mà hơn một tiếng đồng hồ sau Ðiểu mới về báo cáo là tất cả đã chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi!
Toán Duật: một chết một bị thương.
Toán Mã Khện: hai chết.
Toán Nghênh một chết một bị thương.
Tất cả là 6 chết 2 bị thương, chúng tôi còn lại 11 người tại tuyến.
Ðiểu bò ra giếng cố đem qua cho tôi một cái máy. Cột máy vào một đầu dây và quăng đầu dây kia qua cho Ðiểu kéo. Can mờ máy liên lạc với Tiểu đoàn:
– Trình đại bàng, tôi sẽ cho tràn ngập vị trí với thằng 2 của Lộc và thằng 3 của tôi.
Ðại bàng hỏi:
– Tại sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay.
Phán nài nỉ:
– Ðây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin đại bàng cho làm luôn.
Ðại bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:
– Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự.
Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ. Suy nghĩ thật kỹ. Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, bốn căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da và mồ hôi vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Ðiểu chuyển lệnh cho các toán:
– Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán nấy, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại.
Năm thước đường đi đã khó, về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bao phía, đan lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây? Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao xẹt, nhào vào bờ lề và được anh em kéo ra sau. Ðạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Ðây là mấy đứa bị thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút chúng thu hết tàn lực vùng chạy về, chớp mắt không kịp thấy.
Hỏa lực 3 phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi. Các toán đột kích không còn liên lạc với nhau. Ðiểu và Can vẫn giữ căn nhà. Ðịch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của Khăn Tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phóng người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vội tôi ra sau, tôi dừng lại bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dọt về.
Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trố mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em. Tôi vừa quay mặt hét:
– Bắn kềm mấy cây thượng liên.
Những bóng người bay vọt qua đường. Tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em. Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả. Can và Việt nhào đến ôm tôi một cách dữ dội mà đậm đà trìu mến. Lính với tay sờ người, nắm nhẹ áo tôi:
-Ðại Úy, tóc và râu Ðại Úy cháy hết rồi, mặt bị dăm nhiều chỗ.
Cả Ðại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện và sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu đoàn:
– Tất cả đã về vị trí.
Bỗng tôi thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:
– Thằng Ðiểu đâu?
Tụi nó nói:
– Lần cuối cùng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm Ðại Úy ở bên ấy.
– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau.
Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng, phóng nhanh qua đường, nhào lăn vào vị trí và la lớn:
– Ê, tụi bay thấy anh Hai đâu không?
Ðiểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Ðiểu:
– Tau định qua kiếm mày đây.
– Trời anh Hai, tụi nó nói anh Hai chết rồi. Em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè mà không thấy xác anh Hai đâu.. Hôm trước Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát bên cạnh anh Hai, nếu có gì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ..
Tóc tai mặt mày râu ria Ðiểu cháy nám, áo quần rách bươm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẻn lẻn cúi đầu hai hàng nước mắt lã chã giọt xuống đất. Trong một cuộc chiến bạc bẽo lại có chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi. Sáu giờ chiều, xuống trình diện Tiểu Đoàn Trưởng, ông nói ngay:
– Ông làm chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ Đoàn?
Tôi dạ dạ vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:
– Thưa Thiếu Tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí tụi nó. Cho tôi thêm thằng 2 của Lộc, để thằng 1 của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu Tá cho tôi hai chiếc tank kèm hai bên hông của tôi.
Ông hỏi:
– Có chắc ăn không Phán?
Tôi cương quyết:
– Chắc, và nếu tràn được vị trí Thiếu Tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Ðài nếu kịp thời gian.
Tôi theo Tiểu Đoàn Trưởng lên trình ông Già Hự, Ðại Tá Yên Tư Lệnh Phó. Ông già chấp thuận.
Tôi trở về họp các trung đội trưởng:
Ngày mai, 8 giờ sáng, Ðại Đội 3 Khăn Tím bên trái, Ðại Đội 2 của Lộc bên phải, dàn hàng ngang lấy con đường lên cửa Sập làm chuẩn tiến song song. Sau khi hai chiếc tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai đại đội xung phong tràn ngập vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thâu chiến lợi phẩm, để Ðại Đội 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả ba lô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ, Khi tới xóm nhà sát cửa thành thì dừng lại chờ tôi.
Ðúng 8 giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị 6 cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí tác xạ cho hai trưởng xa người Mỹ rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 ly này sẽ san bằng mục tiêu trước mặt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc tăng chỉ bắn một phát đạn duy nhất rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khản cả cổ:
-XUNG PHONG!
Cả một đoàn quân dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con đường của 21 ngày máu và nước mắt, con đường tráng nhựa đẹp đẽ nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chửi thề lung tung rồi chụp cây đại liên M.60 của người lính bên cạnh bắn một loạt dài rồi một mình tôi vừa bắn vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can , Việt, Ðiểu và hai thằng mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Ðúng lúc ấy cả đoàn quân đồng thanh hô xung phong và ào qua đường. Sau đó, đoàn người vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều, M16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, bang chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, đàn áp thật mãnh liệt và chạy tới trước. Ðến 3 giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập.
Lính vỗ vai nhau cười làm tôi bắt cười lớn vì xóm nhà này rất quen thuộc với họ. Lính thường hay đến xóm này rồi về kể nhau nghe con này đẹp, con kia chân dài, con nọ… Nào khăn, nào thau vứt bừa bãi khắp nơi. Lính vui vẻ kể chuyện tục cho nhau nghe và hồn nhiên đùa nghịch. Những tiếng cười đầy ham muốn và thèm thuồng, hơn 40 ngày, từ vùng 4 về giải tỏa Sài Gòn rồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà, chỉ thấy toàn máu và mồ hôi. Tôi ra lệnh:
– Lộc và Sự mỗi ông cho 1 toán 10 người băng nhanh đến sát mặt thành rồi ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán này đồn đồn lên thành. Khi bám được mặt thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vị trí để làm đầu cầu.
Con cái tôi hành động đẹp còn hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc thành.
Một chặng đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Ðài Huế.
Ðây là nơi tượng trưng cho linh thiêng của dân tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 người tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện chiếm Kỳ Ðài. Ðịch bắn trả. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Ðài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, 5 giờ 12 phút chiều, màu áo rằn ri Thủy Quân Lục Chiến đã làm chủ Kỳ Ðài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù còn ở trên không. Một thằng em rút đâu trong người ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu đoàn:
– Tất cả đã sạch sẽ, xin Thiếu Tá cho tôi treo cờ.
Tôi nhớ rõ lệnh của Trung tướng Lê Nguyên Khang:
– Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại cho được ngọn cờ vàng tại Phú Vân Lâu.
Trong niềm vui cùng tột, Hạ Sĩ Hạnh hét lớn: “Thủy Quân Lục Chiến”, xong lấy trái hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười tươi:
– Em không sao Ðại Úy.
Phán nghĩ thằng em này tỉnh táo quá, chắc nó chết, và nó chết thật.
Tiểu Đoàn Trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ.
(Sau này tôi được nghe: Khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự treo cờ cho Sư Đoàn 1.. Sáng hôm sau ngày 24/2 Phạm Văn Ðính dẫn một đơn vị của Sư Đoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.
Nhìn lá cờ vàng phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì một thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn cờ này.
Trung úy Sự trình tôi:
– Thằng Hạnh chết, mình còn 67 người.
Ðại đội ra đi hơn 17O người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có 3 mục tiêu: con đường, cửa Sập và Kỳ Ðài mà bây giờ tôi chỉ còn lại 67 người.
Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Ðông Ba, Nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngã tư Anh Danh. Ban chỉ huy của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm này có Tôn và Lưu cùng học một lớp với tôi hồi nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẩn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lệnh lục soát tàn quân địch. Lính canh bắt giải tới một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.
– “Lệnh giới nghiêm, đã 11 giờ đêm sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá,” Người lính nói.
Tôi sững sờ nhìn người đàn ông. Thầy Cao Hữu Triêm!
– Trời ơi Thầy!
Tôi gọi mấy tiếng lớn mà thầy cũng không nghe, thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời thầy ngồi:
– Con là học trò cũ của thầy đây.
Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:
– Ờ, ờ sao con khỏe không? Thầy mấy ngày ni chưa ăn chi cả.
Lính tôi kiếm cơm trắng và một đĩa gà luộc về mời thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời thầy. Sau một hồi thầy tỉnh táo, và cho biết: cô và sắp nhỏ vào Ðà Nẵng, thằng con lớn bị chết rồi, thầy không muốn về nhà nữa. Rồi thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo. Tôi nói:
– Thôi thầy ở đây với con cho yên.
Lính của tôi thay nhau hầu hạ thầy ân cần, đến ngày thứ tư thầy đòi đi, tôi thu xếp để thầy vô Ðà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của thầy. Cầu mong thầy được bằng an.
Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho Huế. Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại, máu và xương kia đã theo dòng Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ!
Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người./.

Friday, August 24, 2018

Senator John McCain

click on:

https://www.yahoo.com/gma/sen-john-mccain-discontinue-brain-cancer-treatment-family-153031530.html


The Senator's place as witness in the painful Vietnam War is something I will always remember....John McCain the pilot, John McCain the POW who survived the Hanoi Hilton, before John McCain the senator and U.S. politician...


Tuesday, August 21, 2018

my academic article on Vietnamese women, published by the University of Washington

Law Professor Colleen Murphy considers this piece the seminal article on Vietnamese women and gender issues in Vietnam, published in 1999-2000.

https://digital.law.washington.edu/dspace-law/bitstream/handle/1773.1/783/10PacRimLPolyJ191.pdf?sequence=2
CLICK ON:
The Vietnamese Woman: Warrior and Poet 


Sunday, August 12, 2018

FOR VIET READERS: Sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ và cuộc bàn cãi Tổng Thống Trump-Cự̣u Ngoại Trưởng Clinton, Dân Chủ Cộng Hòa, cự̣c hữu cự̣c tả..TRÔNG NGƯỜI THÌ NGHĨ ĐẾN TA, VÀ NGƯỜI CŨNG CHÍNH LÀ TA

Nói thì quý vị có thể cho rằng NN kiêu ngạo. Không có chuyện đó, vì nếu kiêu ngạo thì sẽ không nói: "Kẻ kiêu ngạo khinh người thường thường không thèm nói vì sự khinh mạn."

Khi nói là nói sự thật.  Nói vì nhu cầu đi đến sự thật.   

Cá nhân NN, khi nhìn các chị́nh trị gia ở mức địa phương, tại Texas:  

--Thống đốc Greg Abbott là đồng nghiệp của NN những ngày còn trẻ, tức là ông ta cùng thời với NN. 

--Ngḥi sĩ Ted Cruz có bà vợ rất ăn học, một luật sư, cũng như bà Clinton:  nếu các chị TV, quý vị đồng hương đọc resume của bà Cruz, thì thành quả cũng chỉ tầm cỡ NN mà thôi. 


--Dân biểu liên bang Sheila Jackson, địa hạt Texas, có resume và con đường nghề nghiệp, quá trình phục vụ rất tương tự nhu resume của NN.

Có điều, từ trước đến giờ, cộng đồng mình không biết, và chính bản thân NN không có như cầu nhắc nhở đến nghề nghiệp trong dòng chính của mình trước đồng hương.  

Nói tóm lại, những nhân vật chính trị gia không hẳn xuất sắc hơn chính người Việt của mình đâu, và khi tranh cử hay thắng cử, họ chỉ là những " servants" của chúng ta.

Nhìn lại:  

-- TT Trump làm giàu qua địa ốc, trong căn bản là nghề mượn đầu heo nấu cháo, vì các công trình địa ốc trong quốc gia này đều tuỳ thuộc vào financing, mượn tiền nhà bank hay gây quỹ xây cất. 

--Chính cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế năm 2008 đến từ thị trường địa ốc của Mỹ. 

--Những người giàu địa ốc như chúng ta biết thường là qua lãnh vực trung gian, mua đi bán lại.

--TT Trump không phải là người làm giàu qua manufacturing, hay technology, tức là những địa hạt rất nguy hiểm, đòi hỏi phát minh, tài năng, trực tiệ́p ảnh hưởng đến nhân loại, đời sống, bộ mặt quả địa cầu, như những tỷ phú Mỹ trong giai đọan lập quốc. 

--Cả tỷ phú Bill Gates  và TT Trump đều là con nhà giàu được hưởng thừa kế của cha mẹ, khác hẳn chúng ta là những người đi dân từ một đất nước nghèo, chiến tranh nô lệ, chỉ có mảnh vải che thân khi đến quốc gia này. 

--Cả hai, TT Trump và cựu NTr Clinton, đều là giòng giõi " Ivy League"  của nước Mỹ - Pennsylvania và Yale.  Trong 10 năm đầu sau 1975, hầu như không có Ivy League đào tạo cho cộng đồng người gốc Việt sau 75, nhậ́t là các ngành chính trị́ xã hội.  Thời điểm đó, cha mẹ VN chưa đủ tiền và học sinh VN chưa đủ thời gian phát triển.  Trong thời điểm thập niên 1980s, đầu 1990s, NN là phụ nữ gốc Việt độc nhất sánh vai với sản phẩm Ivy League trong môi trường làm việc cuả luật học.  

Cùng nhìn lại:  sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ từ cuộc bầu cử TTh vưà qua: 

--Nước Mỹ đã và đang đi xuống?  Trong cuộc bầu cử vừa qua: TTh Trump và cựu NTr Clinton bên tám lạng người nửa cân, bên vỏ quýt dày, bên móng tay nhọn, chẳng ai là chính khách đã từng xả thân cho dân như những hình ảnh cao đẹp của quá khứ. 

--Thế kỷ 20 có bà Aung San Siu Kyi  của nước Miến Điện là hy sinh, và Nelson Mandela vào tù ra khám.  

--Còn TTh Trump và cựu NTr Clinton đã đổ xương máu hy sinh cái gì, cho ai? Đã tài giỏi gì ở mức " lèo lái con thuyền đất nước" khi nguy biến???  

̣--Ở Mỹ cũng có tổng thống Kennedy, nhà hùng biện trẻ tuổi, tượng trưng cho " diversity" vì ông là người công giáo Ái Nhĩ Lan đầu tiên vượt qua được những kỳ thị của nước Mỹ để vào toà Bạch Ốc -- ông đã  ngã gục trên vũng máu, và sau đó, cuộc ám sát Dr. Martin Luther King, người tranh đấu cho dân quyền, và sau đó nưã là thượng nghị sĩ Bob Kennedy/cựu tổng trưởng tư pháp, đã ngã gục trước lòng súng.

--TTh Trump và Cựu NTr Clinton đã đổ giọt máu gì, cho ai, mà chúng ta phải bàn cãi nhiều đến nỗ́i gây chia rẽ trong cộng đồng người gốc Vịêt?  

Nhắc lại cộng đồng mình: 

--Ở Houston đã có những kẻ ăn hại bán đứng cộng đồng ra chính trường ứng cử, và một bè lũ đi theo nịnh bợ, dù là địa hạt địa phương. Các địa phương khác, chuyện đó cũng có thể xẩy ra, hoặc đã xẩy ra? Tệ nạn mạ lỵ phỉ báng lẫn nhau càng gia tăng. 

Quay lại bản thân NN: 

--Không chối cãi được NN đã mang hoài bão của trường trung học TV ngày xưa vào lòng nước Mỹ. Nhìn resume, ngay từ đầu thập niên 2000, các đồng nghiệp cuả̀ NN trong dòng chính đều công nhận đây là một cá nhân có thể được bổ nhiệm hay nên ra ứng cử. Thí dụ: LS Samuel Stern cuả tổ hợp Wilmer Cutler ̃ Pickering, người đã đại diện Tibet trước sự đàn áp cuả Trung Cộng; Wilmer Cutler là tổ hợp đã đại diện Cù Huy Hà Vũ và mang ông qua Mỹ.  LS Stern cho rằng resume cuả NN xứng đáng được bổ nhiệm thứ trưởng nếu NN đi theo đường chính trị để hoạt động đảng phái. (NN không thích chính trường, nhưng đã nghĩ đến public service. Vì điều đó, trong thập niên 1980s, NN mới bỏ cha mẹ, dọn nhà lên Washington D.C để hành nghề qua việc làm tại tổ hợp Wilmer Cutler,  rồi tham dự làm ứng viên White House Fellow đầu thập niên 1990, thời chính phủ Bush, và NN được chọn đại diện cho các tiểu bang miền trung Tây, trong đó có Texas.)  Nhưng sau đó NN không tiếp tục tham dự từ Hoa Thịnh Đốn, mà quay trở về Texas với cha mẹ, rồi nhận việc bổ nhiệm thẩm phán thành phố ở Houston. Thị trưởng Bob Lanier đề ngḥi bổ nhiệm dựa trên dossier thành quả cuả NN nộp vào hội đồng tuyển cḥon chuyên viên học giả xuất sắc cho Toà Bạch Ốc ̣(White House Fellows). Sau đó, qua đến cuối thập niên 1990s, khi NN từ b̉ỏ địa vị với hãng dầu Mobil đúng thời điểm có sự sát nhập vào Exxon -- một kinh nghiệm nghề nghiệp vô cùng quý báu mà NN đã hối tiếc: NN lo sưả soạn thi vào ngoạ́i giao, thì xẩy ra tai nạn đụng xe vận tải, NN chịu chung số phận với cha mẹ hiền lành ốm yếu, và sau đó NN quyết định đi dạy để viết sách.  

--Trên đường công danh: hai điều NN có thể làm nếu quyết tâm theo đuổi: trở thành thẩm phán liên bang hay đại sứ Mỹ tại VN đầu tiên là gốc Việt, nếu có sự hướng dẫn và nâng đỡ tinh thần của người đi trước để NN không thay đổi cái nhìn nghề nghiệp trong đời. (Điều này do chính một chị Cựu Nữ Sinh TV và một số thầy cô nói lên, lấy thí dụ Cô HDiệp chẳng hạn, năm 2000: "Con [NN] không đi vào chính trường từ Texas là điều đáng tiếc. Nếu con đi vào con đường đó, con sẽ khác hẳn bà Clinton." -- lời cố GS Nguyễn Hồng Diệp).  

--Nhưng trong thời điể̃m cuả NN, không có sự hướng dẫn hướng nghiệp cuả người đi trước.  NN đơn thân độc mã trong dòng chính, là con cái của nhà giáo VN, nhìn thấy sự cạnh tranh cuả nghề Luật ỏ môi trường rộng lớn nhất là Hoa Thịnh Đốn, sự mất tự do cuả chính trường, cái nghiệp viết văn tiềm tàng trong bản năng, cho nên NN quyết định chọn tự do cá nhân để theo đuổi nghề viết lách hơn là trường kỳ sự nghiệp public office.  Nhìn lại, NN thấy đó là một lỗi lầm, và đồng thời là một niềm hối hận vô  biên coi như mình đã quá ích kỷ và thiển cận, không nghĩ đến danh dự chung của trường, của cộng đồng, nguồn cội, chủng tộc, cũng như chỗ đứng đặc biệt cuả NN trong lòng nước Mỹ, đã thể hiện ngay trong cuộc ứng thí vào làm chuyên viên học giả Toà Bạch Ốc từ năm 1991.

Tệ trạng công kích đảng phái trên chính trường Mỹ và mạ lỵ phỉ báng nhơ nhớp trong cộng đồng thiểu số chúng ta:  

--Cá nhân nhỏ bé NN, trước đây chưa hề nói về resume  của mình, nhưng chỉ trong phạm vi nhỏ bé của cộng đồng VN, cũng đã chịu đựng không biết bao nhiêu sự bịa đặt thị phi ngay từ đồng hương, ganh tỵ, nói xấu, chao ơi đủ thứ, nhất là khi NN rất  thẳng thắn, đặt tiêu chuẩn cao cho nguồn cội chủng tộc.  Thí du, trong năm vừa qua có kẻ đi xin việc cho văn phòng NN, cho gia đình NN, muốn xin ơn, muốn đến gần, muốn cộng tác với NN, muốn dùng tên, không được thi đi thù ghét, phao tin biạ đặt trên FB rằng NN là "con mụ điên," "bệnh tâm thần" bị tước bằng hành nghề, đi xin ăn, đi lừa gạt, v...v...Những hoang tưởng đầy ác ý, vưà rẻ tiền vưà xảo quyệt,  để gây thương tích danh dự và nghề nghiệp. 

--Ngoài NN, dĩ nhiên có những người khác, thành công trước cộng đồng, trong dòng chính, mà kẻ xấu lợi dụng không được, thì lập tức trở thaǹh nạn nhân cuả sự ganh tỵ, dè bỉu.  Một tệ trạng thoái hoá vô cùng cho cộng đồng VN.

Quay lại việc chính trường nước Mỹ:  

--Cho nên, nếu chúng ta tranh cãi về việc Trump- Clinton, Dân Chủ Cộng Hoà, thì trước hết chúng ta nên nhìn lại chính sự mục rưả trong cộng đồng của chúng ta. Tệ trạng nói xấu, nói láo, mạ lỵ, phỉ báng, biạ đặt để dìm uy tín, ganh tỵ, đố kỵ rồi phá hoại, đầy rẫy sau 40 năm tha hương, huống chi chuyện chính trường của Mỹ, bạc tỷ tỷ, ảnh hưởng cả nhân loại, dĩ nhiên phải có cái ác, cái xấu, tiềm tàng trong môi trường đó, ở bất cứ mọi khía cạnh.

--Nên đặt câu hỏi:  Cả  TTh Trump và Cựu NTr Clinton, trước khi tranh cử, ai đã sẵn sàng chịu chết để cứu người, cứu quốc gia, dân tộc, trong tuyệt vọng, trong nghèo đói, trong bạo tàn, như Bà Trưng, như Nguyễn Thái Học, như Phan Châu Trinh, như Phan Bội Châu cuả chúng ta? 

Định nghiã thành công để xứng đáng đại diện Quộ́c Gia có nghiã̉ là gì?  

NN xin nhặ́c lại chữ Noblesse Oblige m̀a tiếng Anh đã mượn, lấy từ cụm từ cuả Pháp. Cả hai ứng viên, có ai làm được những gì Bà Trưng đã phải làm cách đây 2000 năm ở xứ b̀̀ộ lạc cuả vua Hùng? Một sự hy sinh bản thân tuyệt đối? 

NN đã đem hai chữ noblesse oblige để nhắc lại câu chuyện về sự hy sinh cuả con voi hầu đức Trần Hưng Đạo, nói với tuổi trẻ VN, nhằm vinh danh sự hy sinh cuả thế hệ đi trước.  "Đến dã thú còn biết nghiã̉ vụ, huống chi chúng ta???"  (câu chuyện kể, lời Đức Trần Hưng Đ̣ạo).

Chúng ta có cho rằng bà Trưng thất bại, còn TTh Trump là tiêu biểu cuả thành công? 

--Vậy thì, xin vì lời thẳng thắn của NN nói ở đây:  tất cả chúng ta nên nghĩ xa hơn, thay vì đi theo hay lập lại những gì đã nói, đã có, về cuộc bầu cử TTh vừa qua tại Mỹ, hay làm chia rẽ thêm sự chia rẽ́ hiện tại ở nước Mỹ. 
.
--Và đây là lần độc nhất NN nói với đồng hương, với các bậc đàn chị TV, mà phải nhắc resume trong dòng chính của mình.  Nhắc chỉ vì lý do sau:  Bao nhiêu nước mắt mồ hôi tuổi trẻ, hy sinh nhan sắc, gia đình, để giữ chỗ đứng thật vững trong dòng chính, để không ai khinh khi người phụ nữ trẻ tuổi độc nhất bắt đầu ở những môi trường mà cả 20 năm sau, con cháu chúng ta mới bước vào được. NN không hề tranh dành cái gì với ai, trong cộng đồng mình, chỉ là một cá nhân nhỏ bé, mà còn bị nói xấu lia lịa, nạn nhân cuả những bịa đặt rùng rợn, huống chi là TTh Trump hay cựu NTr Clinton?  Trong tổ hợp LS Wilmer, Cutler, nơi đã đào tạo ra không biết bao nhiêu cố vấn pháp luật cho TTh Mỹ và toà Bạch Ốc, quý vị có biết NN làm việc một tuẩn bao nhiêu giờ kh̀ông, mà vẩ̃n cãi thiện nguyện cho người Việt?  Những thân chủ VN ấy, có còn nhớ người nữ LS ngày xưa hay không?  Bao nhiêu cay đắng nghề nghiệp, NN chẳng bao giờ kể hay nghĩ tới, nhưng lỗi lầm trong việc định hướng nghề nghiệp lúc tuổi trẻ NN sẽ thẳng thắn công nhận -- bao nhiêu cơ hội cho người phụ nữ đi tiên phong, NN đã bỏ qua để đi theo tự do cá nhân và ý thức đạo đức, đời sống cuả̀ riêng mì̀nh, thay vì hy sinh cho tập thề để dấn thân vào chốn gươm đao cuả chính trường...NN sẵn sàng nhận đó là một lỗi lầm uổng phí khả năng và cơ hội, dù không ai bắt buộc NN nhận lỗi lầm -- kết quả cuả sự ích kỷ thiển cận này, cộng thêm sự đơn thân đ̣ộc mã trên con đường công danh nghề nghiệp trong dòng chính...

Vì thế, hãy cho tuổi trẻ VN sự định hướng cần thiết, nói lên sự thật và kinh nghiệm đắng cay của người đi trước, thay vì cãi vã theo...dòng chính, hay tự mãn vì sự thành công phiến diện!

Và cũng vì thế, hôm nay NN đặt câu hỏi cho tất cả chúng ta, và cũng là một hình thức kết luận: 

RẤT CÓ THỂ! CẢ CẢ HAI ỨNG VIÊN TTh, THƯƠNG GIA TỶ PHÚ TRUMP VÀ LUẬT SƯ/cựu đệ nhất phu nhân CLINTON,  ĐỀU CHƯA PHẢI LÀ CƯƠNG VỊ LÃNH ĐẠO MÀ ĐẤT NƯỚC NÀY CẦN TRONG LÚC HIỂM NGHÈO?

SỰ HY SINH TUYỆT ĐỐI, TIẾNG GỌI ẤY, NOBLESSE OBLIGE, không tuỳ thuộc Dân Chủ Cộng Hoà, cực tả, cực hưũ̉ ̣(đó chỉ là những labels mà thôi). Sự dấn thân TRONG CAN ĐẢM VÔ BIÊN, MỚI ĐÚNG LÀ NỒNG CỐT CUẢ LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC, NHẤT LÀ TRONG GIÔNG BÃO...

dnn c 2018 

Saturday, August 11, 2018

TRIBUTE TO MY FATHER AND ALL THE SCHOOL TEACHERS OF THE NOW DEFUNCT REPUBLIC OF VIETNAM:

PHÊ BÌNH VĂN HỌC: 

HÌNH ẢNH CON LƯÀ KÉO GỖ CUẢ TRÍ THỨC VÀ NGHỆ SĨ SÁNG TẠO...

FIRST POSTED Sunday, February 10, 2013


THE WOOD-PULLING DONKEY OF NG.UYEN NICOLE DUONG -- DƯƠNG NHƯ NGUYỆN VỚI CON LỪA KÉO GỖ

LITERARY CRITIQUE Phê bình và phân tích văn chương
SOURCE:   http://www.vietbang.com/index.php?c=article&p=1889

NOTE FROM UYEN NICOLE DUONG:  The following is a review written by Dieu-Tan, a Vietnamese writer from the first generation, who had won South Vietnam's literary prize before the Republic went defunct.  He said that he would not hesitate to name my short story, "My Father's  Accordion," as one of the best short stories in Vietnamese exile literature.  He explained why below.  
      I very much appreciate his review, which showed sensitive insight into my short story about the life of a Vietnamese school teacher, in Vietnam and in America.  The symbol of Vietnam in that short story was the schoolteacher's accordion, representing his artistic side, contrasted against an art review written by this school teacher about a painting that he compared to the portrayal of a wood-pulling donkey's life, representing his intellectual side.   One of my few pieces published in Vietnamese, the story was dedicated to my father. In Dieu-Tan's view, the short story is semi-autobiographical. This is INCORRECT. Dieu Tan viewed the narrator as myself. Note that I am a corporate lawyer; the narrator is an investment banker.  My father, however, is a school teacher, and he does play the accordion like the character.  The name of the narrator  is TRAN THI NHU HOAI AN, and the name of the school-teacher character is TRAN NHO, not "Nhu" (MY FATHER'S NAME).  My short story is a work of fiction, although I drew many details from memory of my own childhood in Hue, Vietnam. In a small number of copies circulated on the internet without my awareness, the narrator's name was changed into DUONG THI NHU HOAI AN, probably by those readers who thought of the short story as my memoir.  
For the Vietnamese version of my short story  (kind of a novella), see https://vvfhvietvoicefhouston.blogspot.com/2017/07/chiec-phong-cam-cua-bo-toi-my-fathers.html

chiec phong cam cua bo toi

     My only other "objection" to Mr. Dieu-Tan's review is his comment on my pun, "cai tieng nuoc non gi."   I meant for that Vietnamese phrase to be exactly the way it is, a play on word!   DNN

Review of "MY FATHER'S ACCORDION"  (Chiếc Phong Cầm Của Bố Tôi”) 

by DIỆU TẦN NGUYỄN TINH VỆ

Truyện ngắn “Chiếc phong cầm của bố tôi” viết xong từ tháng 9-1996, đã cho in thành sách, đến nay mới cho chạy trên liên mạng. Tôi định sẽ có ý kiến về cuốn truyện dài “Con gái của sông Hương,” tình cờ đọc được bài ‘nghiên cứu về bố tôi” của nhân vật xưng tôi Dương Thị Hòai An, bèn tạm ngưng để viết ngay về truyện ngắn này, đúng hơn là một hồi ức ngắn của gia đình họ Dương. Tôi không ngần ngại đánh giá đây là một trong những truyện ngắn hay nhất từ sau 1975 tại hải ngoại. Tôi hơi làm biếng bàn về “Con gái Sông Hương” bởi trong đó có rất nhiều hư cấu, dường như có chủ ý dành cho người Âu Mỹ đọc. Tôi cũng không ưa lắm lời giới thiệu của nhà xuất bản RavensYard rằng tác phẩm dài hơi này, viết bằng tiếng Anh được dịch ra tiếng Việt, có một ít tầm vóc của Gone With The Wind, của The Thorn Birds và của Joy Luck Club.

Người ta biết Dương Như Nguyện là một nhà khoa bảng, một giáo sư dạy Luật, từng là chánh án một thành phố lớn, đã học về báo chí truyền thông, được đào luyện về diễn xuất kịch nghệ, hát nhạc cổ điển và ưa thích hội họa, chỉ còn thiếu môn điêu khắc nữa là tác giả đã có đủ bảy bộ môn nghệ thuật. Những kiến thức đó, những quá trình học hành đó, người ta hỏi có đủ bảo đảm cho tài năng và kinh nghiệm của một người nữ tay trái viết văn làm thơ, ve,ờ diễn xuất, tay phải lại bận rộn cầm sách giảng luật pháp? Qua xuất hiện trước thính khán giả vài nơi, nhất là lần ra mắt sách tại San Jose vừa qua, người ta thấy tác giả đã có tài ăn nói (miệng luật sư đấy), hát và ngâm thơ hay. Buổi ra mắt sách chuyển thành buổi nói chuyện giữa tác giả và thính giảợ, bởi có trở ngại kỹ thuật là sách không mang tới được hội trường. Vừa đóng vai một nghệ sĩ vừa khóac áo luật sư, Dương Như Nguyện đã trả lời tất cả các câu hỏi về mọi lĩnh vực, dĩ nhiên cách giải đáp những câu hỏi liên quan đến chính trị, thời sự đã được lọc qua lăng kính luật pháp. Và Dương Như Nguyện đã thuyết phục được thính giả.

Tôi biết nhân vật Ann Dương rất độc lập, tân tiến.. nhưng đọc “Chiếc phong cầm của bố tôi” mới thấy cô còn lưu luyến “luân lý giáo khoa thư” lắm. Tuy cô muốn hướng dẫn mọi người đi vào “dòng chính”, cô hăng hái đề cao tinh thần Hồ Xuân Hương. Tôi ở tuổi chú như chú Hiếu Ðệ, chú M. của tác giả, nếu có xưng chú cũng không sao, tôi có con gái lớn của tôi bằng tuổi với tác giả và cũng được sinh ra từ Huế. Nhưng để cho công bằng cứ gọi nhau bằng anh chị em như nhà văn Bình Nguyên Lộc đã nói. Hồi này tôi ít viết, một phần vì mắt kém, một phần thấy trên liên mạng người ta gây gổ nhau, mạ lỵ nhau ghê quá. Tôi viết gửi tác giả có lẽ tôi yêu mến thành phố cổ Hội An, nơi tôi sống và làm việc 2 năm đầu đời quân ngũ, tiếp 2 năm sau đó ở thành phố có cầu Trường Tiền với những nữ sinh áo trắng guốc đỏ đội nón bài thơ đi trong bụi mưa dai dẳng. Ðó là những nơi chốn tác giả họ Dương được sinh ra và lớn lên.

Cô thanh minh là “Chiếc phong cầm của bố tôi “không phải là những lời kể về cuộc đời ông bố. Tôi đồng ý, ông Nhự giáo sư Ðại học, du học bên Tây, dạy con nít bên Mỹ là một điển hình cho lớp già nua đã sinh ra wrong nation, wrong century (thơ Vũ Hòang Chưong) trí thức, muốn làm một chút gì cho quê hương nhưng.. đành khoanh tay bất lực. Tất cả chỉ là con người yếu ớt ở một nước chậm tiến, chiến tranh triền miên. Không phải chỉ một thế hệ, có lẽ đến bốn thế hệ đã sinh nhầm thế kỷ. Kiếp người Việt trong khỏang 80 năm trở lại đây cũng chỉ là những “con lừa kéo gỗ”. Ông giáo Nhự “lành như bụt” có nhiều mâu thuẫn, ông hiền, nhưng có lúc lại Tây quá. Ông hà tiện cắt tóc lấy nhưng lại bỏ khá tiền mua tranh thưởng thức. Ông may mắn đã được tiếp nhận những tư tưởng tự do, dân chủ tại Phap, nhưng lại khư khư giữ chiếc đàn, chiếc cặp da cũ xì, mặc áo quần cổ lỗ sĩ, không bao giờ thay đổi món ăn trưa

Mới và cũ, tự do, dân chủ công bằng bác ái, nông dân và trí thức, ưu tư thời cuộc, nhưng chưa dấn thân, không quyết định dứt khóat, thủ cựu, lỗi thời, cúi đầu cam chiụ sự o ép kỷ luật của chính quyền đó là đặc tính của giai cấp tiểu tư sản. Người ta cho rằng cộng sản biết lợi dụng sự lưng chừng yếu kém của giai cấp tiểu tư sản và cái ngây thơ của trí thức sa-lông và trí thức dấn thân kiểu Dương Quỳnh Hoa. Cụ giáo Như và chú M. rốt cuộc lại tái ngộ trên đất ‘đế quốc”, sau một thời đã muốn đi vắng xa và nhà chú M. bị đốt cháy. Dương Thị Như Hòai An kể sơ vài dòng đến biến cố miền Trung năm đó. Phải, “cái gì đổ, chứ làm sao Phật đổ được, phật đây không chỉ là tượng Phật nhưng là cái tâm phật, là lòng lành của con người. Nhắc đến chuyện cũ để hiểu chuyện ngày nay, không ép được Thiên chúa giáo, họ quay ra ép Phật giáo vì đạo giáo này yếu về tổ chức, không có thế quyền mạnh.

Tác gỉa nhắc đến chi tiết ông bố nói chuyện một mình trong phòng với bà vợ. Những nhà trí thức bằng cấp đầy mình, cuồng chữ không biết tung mớ hiểu biết ra cho ai, và dường như không được đãi ngộ xứng đáng với tài học, chỉ còn cách “đọc kinh” kỳ quặc một mình. Lối độc thọai này bị bà vú chê là điên, nhưng ông giáo sư có điên đâu, ông rất tài giỏi. Trong những những cuộc đối thọai tay đôi, tay ba, tay mấy đi nữa, phía bên kia cứ bổn cũ sọan lại, cứ độc thọai, ai nghe thì nghe, không cần biết. Họ không tài giỏi, trên bảo sao nói y như vậy, nói như cuốn băng thu sẵn, đó là kinh nghiệm ở Việt Nam, ở Bắc Hàn, ở Iran bây giờ. Hòai An có nhắc đến đôi mắt Sơn Tây Quang Dũng, dẫn lời nhạc của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy. Sao cô không nhắc đến thơ Quang Dũng? Nhiều người mê thơ lãng mạn và dũng liệt của Quang Dũng, người ta khó ưa nổi nhạc sĩ họ Phạm qua kim tiền chủ nghĩa, nhục thể chủ nghĩa và cỏ đuôi chó chủ nghĩa.

Làm sao oai hùng bằng Tây Tiến, khi tác giả chưa biết mình bị lợi dụng:

Tây Tiến đòan quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùng
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Hay đầy ắp tình đồng bào, trong “Ðôi Bơ”:

Xa quá rồi em, người mỗi ngả
Ðôi bờ đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Họ tệ bạc bất công với Quang Dũng, bát nước hắt đi không bao giờ đầy lại dù sau này họ đã “cởi trói”, đã đúc tượng nhà thơ họ Bùi này.

Nhân vật Hòai An thừa hưởng nét thông minh vốn sẵn tính trời, tài giỏi, có tâm hồn nghệ sĩ của ông bố. Nhưng cô ta chỉ được coi như thế hệ 1 rưỡi thôi, chưa phải là nhị thế. Bởi cô còn biết mua cho được Quốc văn Giáo Khoa Thư để đọc, để yêu linh hồn, tinh thần luân lý giáo khoa thư. Thứ luân lý ấy vẫn ‘vất vưởng theo chân người việt tị nạn. Cô chưa thể nào dứt bỏ được quá khứ oai hùng và đau thương của những con lừa kéo gỗ. Vì cô đã cảm nhận được nỗi buồn khi nghe người ta độc thọai, cô đã chứng kiến Huế yên bình giả tạo năm đó. Cô đã bị ám ảnh, ghê sợ khủng khiếp một sự lật đổ. Cô sợ những khi đang ngủ vì một biến cố nào ó, bị dánh thức dậy. Cô đã lờ mờ hiểu thế nào là sự sụp đổ cả một chế độ. Nghĩa là cô còn bị quá khứ ràng buộc, chưa dứt bỏ được những kỷ niệm đau buồn thời lọan lạc, chiến tranh. Rất may cô đã đường hòang đi vào dòng chính và thành công trong nghề nghiệp.

Luân lý giáo khoa thư tưởng dễ mà khó đấy. Năm tôi 10 tuổi học lớp Ba trường huyện, học đến bài anh em nhà họ Ðiền, thày giáo giảng mãi mới hiểu. Cầm búa chặt cái cây cổ thụ chia nhau gia tài, có gì phải khóc?. Ðến bài Cái Lưỡi của anh chàng mổ heo thì mù tịt, cái lưỡi lợn có gì là ngon, thịt ba chỉ hoặc thịt heo nạc mới ngon chứ! Cái lưỡi của Esope thực ra phải dành cho bậc trung học, ngay cả đại học nữa. Cũng chỉ vì lo truyền đạt căm thù, nên sau này thiếu vắng những bài học Việt văn giáo khoa thư, như giúp đỡ người già cả, anh em như thể chân tay, ông tây làm lớn còn nhớ thày giáo làng thuở nhỏ, tìm về thăm. Hậu quả là cho đến bây giờ, từ 3 tuổi cho đến lớp tuổi lớn lên từ chiến tranh là cỡ 40, 45 vẫn thích nói “đồng minh” hơn là là thưa trình, cúi đầu :” Thưa thày con đi ạ” như học trò Quảng Nam trước 75.

Trở lại với ông giáo Nhự, thật tôi nghiệp ông và tội nghiệp cho những người già cả có quê hương nhưng chưa trở lại được với quê hương. Ông như chiếc đàn phong cầm cũ kỹ gầy gò, mảnh khảnh. Trước những phong ba đất nước những biến đổi khủng khiếp, chạy từ Bắc vào Nam, rồi từ Sài Gòn tuốt sang Mỹ. “Lúc nào mặt ông cũng chảy dài có vẻ đau khổ, đôi mày ông cau lại bởi phấn trắng bảng đen theo ông đến tận cuối đời. Thời gian trước khi về hưu là thời gian ông chiụ trận nặng nhất với lũ học trò con nít xứ người, đủ màu da, đùa nghịch theo bản năng. Ông bị mất giá phải dạy những lớp tiểu học. Ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Ông không oanh liệt tại chiến trường, ông oanh liệt trí tuệ. Ông mất đám học trò lễ phép xứ Quảng, ông mất đám sinh viên thông minh chăm chỉ. Tội nghiệp cho ông, tôi nghiệp cho những ông tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng, tướng tá Phong trần đến cả sơn khê, tang thương đến cả hoa kia cỏ này

Cô D.T. Hòai An hay Uyển Nicole Dương cũng thế, tuy có 18 năm lớn lên ở quêạ nhà, có 30 năm hòa hợp với dòng chính, sử dụng tiếng nói và chữ viết quê mẹ lẫn quê người, rất thành thạo. Tuy nhiên, có lẽ phải tiếp xúc với Mỹ chính dòng nhiều hơn nên đôi khi “tần số Việt” cũng hơi sơ hở. Cô quên chưa tìm được chữ Việt thay cho chữ avocate, cứ nhắc mãi avocate, avocate, avocate. Curriculum là giáo trình, là chương trình giảng dạy; cắt tóc lấy bị so le, bị lệch chứ không nói bị méo; urban là nội thành, thành thị, không phải thị tứ đối lại suburban là ngoại thành, vùng quê. Câu: không ai để ý tôi hát cái tiếng nước non gì, nên sửa lại: không ai để ý tôi hát thứ tiếng xứ sở/ quốc gia nào. Nhiều dòng trong bài nhắc đi nhắc lại, không phải để nhấn mạnh, đã thừa ra. Nhưng đó là những lặt vặt, không quan trọng. Quan trọng là ở nội dung, ở triết lý cô đã nêu lên được, và cô đã thành công.

Dương Như Nguyện đã hiên ngang sánh vai với dòng chính, đã vượt trội đã nổi danh trong lĩnh vực giáo dục, luật pháp, cô sẽ tiếp tục thành công trong lĩnh vực văn chương chữ nghĩa Việt. Ðiểm thành công của cô về phần thơ văn dường như nhờ cô còn yêu, còn nương náu linh hồn Việt Nam, cô mệnh danh đó là luân lý giáo khoa thư. Qua truyện ngắn ““Chiếc phong cầm của bố tôi” cô đã nêu lên được cái Chân Thực, cái ‘ Ðẹp đẽ và cái Tốt Lành của văn chương. Chúc cô “đội hai mũ”, mũ luật học và mũ văn học được lâu bền, cô không bị khập khiễng đứng một chân đâu. Dương Như Nguyện sẽ không cô đơn, sẽ không phải độc thọai, bởi có nhiều người đã nghe, đã hiểu cô muốn nói, muốn viết gì. Tôi cũng chúc cụ Dr. Nhự bay sang Cali chuyện trò bằng tiếng Việt thỏai mái với đám cựu sinh viên đông đảo và ngoan ngõan của cụ

Wednesday, August 1, 2018

about the art of Van Gogh

Van Gogh: the writer who paints. 'I dream my painting and I paint my dream'. Instead of writing, he paints!

For Viet readers: tranh Van Gogh la mot su dien ta tinh cam noi tam ve con nguoi va doi song qua mau sac. Van Gogh la nghe si do^.c die~n qua mau sac va duong net. Ong dung mau sac va duong net de viet len tam tra.ng. Dung ra ong la nha van hon la danh hoa, vi ong chu trong su dien ta theo cai nhin va tam tu cua hoa si, chu khong chu trong den lam cach nao de dem canh vat doi song va con nguoi len gia' ve~cho that giong cuoc doi theo cai nhin cua nguoi binh thuong. Nhin tranh Van Gogh chung ta biet ngay do la tranh!

Van Gogh be gay nhung truyen thong hoi hoa tu truoc. Cuoc cach mang mau sac (mang len gia' ve mau xanh, vang va cam), cuoc cach mang ti~nh vat (mang su chuyen dong vao ti~nh vat hoa la, gan nhu bien hoa la thanh do^.ng vat), cuoc cach mang noi tam (mang len gia ve su hon loan cua tam tu, dien ta tuo?ng tuong ti'nh cua tri nao), va cuoc cach mang cua hoi hoa qua doi song (ve toan su a?m da.m cua canh tri ben ngoai, doi song cua nhung con nguoi co kho^? trong giai doan chuyen tiep tu nong nghiep qua ky nghe, gioi nong dan, gioi tho thuyen thay vi ve nguoi quy phai).

Tranh Van Gogh nhin vao chung ta nhan ra ngay, va chung ta se biet do la tranh, dien ta qua cay co. cua mot nghe si da~ song doi gian kho^?, mot van si dien ta noi tam giong bao cua con nguoi bang cach du`ng mau sac va duong net thay vi chu viet...



Van Gogh hoc va quyet tam theo hoi hoa, de lai khoang 2000 buc hoa, va rat nhieu la thu noi len tam trang cua ong...






Su xuat sac cua tranh truyen than Van Gogh: gia tri nhan ban va my thuat, khong tuy thuoc vao viec bien tranh thanh hinh, ma la su song dong cua cong trinh my thuat di sat vao doi song con nguoi qua su dien ta noi tam, bien noi tam thanh su chuyen dong cua vat the^?: buc tranh tro thanh doi song ma van la tranh, khong can den ky thuat nhiep anh bay gio.