Showing posts with label am nhac. Show all posts
Showing posts with label am nhac. Show all posts

Sunday, November 5, 2023

tieu chuan cho dai hop xuong


On this day
6 years ago

Wendynicolenn Duong is with Anhlan Nguyen and
13 others.
·
Shared with Public


V/D TIEU CHUAN TRONG AM NHAC:

Choir, Đại Hợp Xướng, phải như thác đổ mưa tuôn nghiêm trang lâng lâng hay như tiếng gọi lồng lộng trong rừng, tiếng trong như gió thoảng ngoài,tiếng khoan sầm sập như trời đổ mưa ..Tiêu chuẩn tiếng đàn Thuý Kiều N/Du đã nóí, và đ́ó cũng là tiêu chuẩn tôi dùng cho Đại Hợp Xướng classical style. V̀i cần tiếng trong tiếng khoan tiếng đục cho nên mới chia bè: first soprano, second soprano, alto ̣even contralto, tenor, barritone bass...mới viết nhiều giòng nhạc, mới có conductor hoặc là ca sĩ thượng thặng từ Julliard mà ra, họac là Ph.D. in music với đôi tai và bàn tay, trí tuệ, là cả cuộc đời hiến cho âm nhạc. Đó mới là choir đại hợp xướng, vượt trên cả một giàn đại hoà tấu, "crossing the full orchestra" to reach the very audience member at the farthest corner of the concert or recital hall...
...AND BEYOND, vì khán giả đi về sẽ nhớ một đời, vì âm nhạc, chứ không phài vì ethnocentricsm cuả aí quốc cực đoan. Đó là tiêu chuẩn tôi dùng ở đây, vì tôi respect nguồn cội cuả tôi và tôi respect âm nhạc, chứ không phải vì tôi rảnh thì giờ để khoe khoang kiến thức..."Music is enormous." M/Callas. Tôi vì phà̉i đi làm đi học khoa nhân văn cả đời không có thi giờ theo đuổi âm nhạc tận tụy toàn thời gian, tôi tự cho mình là kẻ không được học hay đào luyện đến nơi đệ́n chốn như tôi muốn, và vì thế chẳng có lý do gì để khoe kiến thức nghệ thuật với đồng hương...
thế nhưng tư cách cuả một khán thính giả, tôi và nhiều người gốc Việt khác, có tư cách ấy, khá nhiều....Tư cách cuả một khán thính giả, độc giả có lòng và biết suy nghĩ. Tôi không muốn nhìn thấy sư tự mãn cuả tinh thần aí quốc cực đoan trong địa hạt văn nghệ và dân trí, mà trái lại tôi muốn nhìn thấy con đường thiên lý đ̣i đến xây dựng pḥuc hưng toàn diện renaissance sau khi đã đổ nát. Muốn vậy chụ́ng ta phải thành thật nhận thức tiêu chuẩn là gì, và cho ai...
Cha tôi lúc hoc ở Âu Châu được nghe đại hợp xướng của Nga, về kể lại cảm tưởng, tôi là đứa bé đã nhớ lời cha nói trọn đời, và tôi năm 1991 ĐƯỢC gặp gỡ, thử giọng và học sơ đẳng một buổi với một Bolshoy singer. Gịọng bà ấy vang rền như chuông vàng, như thác nước. Bà ấy dùng phương pháp "physical" để đẩy cho tôi đi, ngay cả cử chỉ đấm vào bụng để bắp thịt hoạt động và để tôi cảnh giác. Và rồi qua đến 2013, tôi đến Nga, được nghe Đại Hợp Xướng và solo classique ở địa phương, thành phố chôn nhau cắt rốn của kịch tác gia Anton Chekhow., được chứng kiến tài năng văn nghệ tuyệt vời cuả các học sinh Nga, chẳng phải là ở hý viện cuả St. Petersburg, cũng đã thấy tài năng và cái đẹp.
Trong cuộc đời tuối trẻ cuả một luật sư quốc tế bương chải nhiều nơi, tôi đã ở và học tại nhiều thành phố, và tôi luôn audition/đến với tất cả các choirs đại họ́c và choirs cuả symphonies thành phố, ngoại trừ hai thành phộ́ mà thôi. Tôi đã là khán giả ở London, Paris, New York, D.C., San Francisco, Houston, Singapore, Melbourne, etc.
Trong đ́ó, kinh nghiệm đáng nhớ nhất là tôi đã được hát Classic Canons, Haydn's Salve Regina và Mozart's Regina Coeli, Mendelson, Schubert, Beethoven, dưới tài điều khiển cuả choir director: Dr. C. DeFotis:
http://www.thecrimson.com/.../associate-choir-director.../.

https://www.thecrimson.com/article/2002/5/13/associate-choir-director-will-leave-only/?fbclid=IwAR1tkGwn1EhC4PYtBM8PyyUgq04xkJq1ni_1fXLzvMRLvxfSS6jwJEhDz7

https://en-academic.com/dic.nsf/enwiki/854324

Và dĩ nhiên ở vài đại học hay thành phố khác: được nghe live, được hát Mozart's Requiem...
riêng về Haydn: Sau khi đượ́c hát dưới sự điều khiển cuả Dr. DeFotis tại Harvard Radcliff choral society, tôi nhớ mãi câu Ad te suspiramus...và đã dùng câu đ́ó để vocalize trong đời, mãi cho đến khi tôi mất giọng và không còn hát nghiêm trọng nưã. Bây giờ nếu hát, tôi chỉ hát với lòng thành...
Tại Houston, tôi cũng đã đượ́c gặp beautiful Barritone Carlton Ford để ông thử giọng, và được nghe gịọng hát cũng như experience tài conduct cuả ông. ̀Ông đã chỉ bảo cho tôi vài điều tôi chưa hề biết̉ sau nhiều thập niên....
Những tiếp cận và sinh hoạt trong môi trường âm nhạc chuyên môn về classical làm tôi một cá nhân nh̉ỏ bé muốn quỳ xuống...
Trong khán giả ở Sanders Theater tôi có mời vị đồng hương VN độc nhất: đó là ̣(ông) bà Truong Hoa Diên Fuller ở Boston, cựu giám đốc Công Ty Thanh Sơn, VNCH, là cựu giáo sư Đồng Khánh dạy mẹ tôi, và hình như bà là phự nữ đầu tiên tốt nghiệp Cao Đẳng Thương Mai tại Pháp trước 1954. "I am proud of you," she said, and I was only a member of the Radcliff society choir, first row, the only Vietnamese. It's not my style to go around having pictures of myself taken at these occasions, but I wish I had had a picture of me on the first row of that choir, under Dr. DeFotis, or with Dì Hoa Diên ̣-- năm nay chắc đã 90+.
Tôi nghĩ như thế đủ để tôi trình bày quan điểm cuả mình về Đại Hợp Xướng cho cái gọ́i là quốc hồn quốc tuý cuả VN, trong tinh thần xây dựng, đứng về phiá khán giả...Cḥi Nhuận, Suong cuả Ngàn Khơi là tình nghĩa TV, có chút́ quen biết. In fact, that same year when we worked under Dr. DeFotis, 1999, chi Nhuan or chi Suong from CA contacted me at Cambridge, wanting my consent to use a tape of my choreography and solo dancing for Bac Le Van Khoa's composition, on stage at Rice University here in Houston back in 1992 or so, for a charity. ̣(That was among the very few times i even danced amateurly for a Vietnamese audience, no luxury of real practice because i worked 60+ hours a week, litigating in CA federal courts for a big law firm, those days (later, undertaking, on top of that workload, a magistrate judgeship, which required me to conduct night and weekend court...).
As a self-acknowledged amateur, i consider myself a perpetual student of the arts.
For professional singers who have developed individuality in a style outside of the classique, choir experience may be too restricting for them...For me, participation in classical choral symphonies is the ONLY way I can get instant beauty and musicality, as well as appreciation for both, in the spirit of the highest musicianship accorded me, and the most cooperative and professionally responsible teamwork for vocal music.
Vì chi NMN đã share, tôi xin nhờ phổ biến cho quý vị nào đã đọc tôi, để hiểu v/d tôi đặt tiêu chuẩn rất cao cho ca đoàn Ngàn Khoi, vì ḥo đã đi vào địa hạt g̣oi là tượ́ng trưng cho quốc hồn qu
ốc tuý cuả VN qua những trường ca bắt nguồn từ âm nhạc dân tộc, trước ̃1975.

Wendynicolenn Duong is with Chuong Ha and
6 others.
·
Shared with Public


TRUONG CA ME VIETNAM, CHORAL SYMPHONY, NGAN KHOI: THE STANDARD FOR CLASSICAL CHORAL IN AMERICA

sorry to tell the truth: using the standards of 100+ member choirs in the U.S., and justifiably so, I am disappointed. Especially the second number (and the 4th?, right upfront?) (my favorites from the whole symphony): with such great substance, I expected much much more vitality and nhip dieu nhun nhay created with voices, vi la su ca tung sac dep cua me VN... the music and semantics both call for this. More allegro? more uon eo? more nuances? more up and down, high and low, rise and fall, etc. My soul wants to be grabbed. it's not happening. what did pham duy want? he took this from folk, so use tinh tu ngat ngay cua dan toc ma`... set the piece! What did this conductor want? The arrangement and the performance were just dragging in the second number. not "vivant," not vivacious enough.
Come on choir, you don't just stand there and sing well to express volume of a group and be on pitch. You are there to express. Where is the grabbing of the attention, the submerging, emerging, dampening or envigorating of your entire being, with sounds?
The best part, khoan ho ho khoan to express the waterways and ocean coasts of vietnam??? if yes, then NOT DRAMATIC enough. COM ON, CHOIR, I AM FRUSTRATED. YOU NEED TO GIVE ME MORE. THAT STRONG LEGATO AND THEN SLIMMING DOWN, into silence. you are expressing the waterways, the ocean, aren't you? 100+ VOICES collectively, PLEASE. COME ON. I want virtuoso. I want rise and low, small and big.
Some of the solos are not strong enough. again, too much vibrato. not steady enough, not enough control with resonance. not enough skilled, stunning legato. therefore, no or little nuance during solos. LIVE AND DIE WITH YOUR LINES, GUYS AND GALS, LIVE WITH THE CHORAL FOR MONTHS WITH THE WHOLE OF YOUR BEING, BEFORE YOUR PERFORMANCE DAY/NIGHT, PLEASE. and then each one of you, xuat tha^`n for me. GIVE ME ALL OF YOUR BEING, 100 members you are, AND THEN ONE SOLO CAO VUT OR TRAM HUNG, PLEASE. (Even if you don't have that number, 100 of voices, still give THAT EFFECT!
And, I DON'T LIKE the use of individual microphones for the solos, too close to the solo singer like singing night club, because that does not comport with natural acoustics of the whole choir. If you've made it to a 100+ voices for choir, then use natural acoustics with added microphone enhancement strategically positioned only. The individual microphone uproots and upsets the balance of acoustical hy' vien, so i have to be there to tell what the imbalance is. Strictly, tHE USE OF MIC FOR SOLOS CAN BE A FORM OF CHEAT, KIND OF!
i don't know if this has been adjusted sound-wise to make it sound better for the tape, having being recorded professionally during the live performance??? All that technical adjustment, IF ANY, will be affectatious and not true to life. Again, I have to be there to know what i hear, live.
Choir experience is a terrific, almost surreal, OUT-OF-BODY experience. it's unique. when the conductor's hand gives a sign, the voices stop, precision, precision, precision, and the ensuing silence is breathtaking. When the voices rise, forte, or drop/dwindle down, pianissimo, when the voices dance with the pitches, rushing, spreading, or cooling, seemingly catching with timing or elusively letting go with timing, etc. etc.etc. it's out of this world. It grabs your soul. The audience nin tho. Do we have this here? I don't know, but not on this youtube.
the live experience of a choir performance is special and one has to be there. But with all the sound assistance, have it on youtube is still a disappointing experience for me.
it's like a strong train running at the same pace with a few stops here and there, from A to Z.
Good try. but not enough virtuoso to carry the soul of virtuoso spectacular vietnam where it could have been.
it's been almost half a century >40 years. I want more out of you. too much đều đềũ. not enough breathtaking quality. if you just sing, and sing well, that's not enough for me. I want to see and feel what you express as a group. I want to see those images thru your voices.
"nuoc di la nuoc khong ve, etc." I want more ni? non, more virtuoso, i want all such soprano-range female voice(s) into a string of silky water stream, gleaming thru the airspace, and when the male voices come in, i want all that drama, i want a waterfall!.
and, the silence, the pauses. those dau lang, rests. I want more distinction. i want that tension of expectation with the next note.
I know what i am saying, highest standard, because i've been in choirs. It's America and we have had >four decades and a whole vibrant community there in orange county, with lots and lots of money earned and spent.
toward the ending, all those ascending phrases written by Pham Duy (allegedly coming out of the best of vietnamese folk -- the melody is folk influence, clearly), I want THAT CRESCENDO. DISTINCTION: Small to big, climbing, so naturally gliding, yet distinctively in nuance, please.
the last piece, Vietnam vietnam, is just part of the same train already running. Yuck. This piece alone should stand out with so much vigor to distinguish it from the virtuoso -- the rise and fall that should have been before it. One way is to speed up the tempo more hao hung for VietnamVietnam. that's the epitome, supposedly!
You the arranger and choir conductor have all those choices at your fingertips. why didn't you use them more fully and selectively?
the last phrase: give me more holding on the notes powerful powerful powerful and then gleaming down to end. tension is in the silence, and tho? pha`o for the end -- this is the beauty of choir. the collectivity of voices at their best.
I am not substituting my preference or judgement. I am asking for all this as an informed member of the audience who has been with, and listening to, the best.
You and all your voices just carry... the train. but the training running smoothly and efficiently is NOT enough. this is music at long dantoc, in the global standard of one vast America. Choirs happen everywhere at every church, at every community, university, regional theater, the best of form, the best of music. As a member of the community at large, a music lover, and an oldie classical buff (for lack of a better word), I have the right to expect more of this conductor and this choir. I want to see the Vietnamese excel and distinguish.
One question: what did Pham Duy write? It is the three-part symphony? I don't hear three parts with breaks. I could be wrong!
ON TO CON DUONG CAI QUAN:
now I am going on to hear con duong cai quan. the next piece IN THE PLAY LIST. the solo female is weak. FAR too weak. "dong dang co pho ky lua" "nuoc non ngan dam ra di" all requires more expression. reo rat ni non. Virtuoso, virtuoso. Even when it's nhe nhu lieu nhu gio thoang nhu mua bay, it has to be full of that internal energy underneath the voice. distinguished legato please. AND, less "h," please. I have lost my voice so I am now full of "h" in my high notes. but you, soloist for this kind of choir, you have to give me resonance and a solid, steady stream in your high notes. (Toward the later part, there's one voice with a couple of lines that impresses me more.)
and then that gorgeous line coming in: toi di tu ai nam quan qua vai ngan nam le. the rhythm, the rise and fall of pitches, the appoggiaturas that is: I would even play with staccato on this phrase!
The male tenor is ALSO far TOO WEAK FOR THE VIRTUOSO LINEs, or this piece!
and when the whole choir comes in: not dramatic enough.
oh my...I don't like what I hear for the beginning or most part of con duong cai quan. same problem: the same train going without the grabbing of your whole being: ru`ng minh, run nhu run than tu thay long nhan, nhu han mac tu noi, do moi la kinh nghiem cua choir o Tay Phuong. Get me there. the solos or the soprano group are too weak. I am using a high professional standard here.
Should be nothing less but the highest standard of America. the more i expect, the more RESPECT I AM GIVING TO YOU MY FELLOW MUSICIANS/choir vocalists AND FELLOW VIETNAMESE. You are representing us in America from our capital home-away-from-home Little Saigon, aren't you? DO BETTER FOR ME because i can't do it, but i have heard and been with the best. Do it for US. AGAINST at least THE BEST OF REGIONAL, UNIVERSITY, AND COMMUNITY CHOIRS OF THIS COUNTRY.
the richness of pitches rise-and-fall the virtuoso of lines must be the standard of delivery for this type of music, this kind of professional setting, bec it is the best of lo`ng dan toc. Make it on par with the best of the world, even if you are amateurs. You've gone this far. YOU ARE AFTER ALL, apparently A TRAINED CHOIR even if each one of you might be an amateur.
(I personally would add one full measure to each ending and make the choir hold legato for each part. give more tension to breaks. so, conductor, decide when to raise your arm/hand gestures for that beginning, recommencement or resumption of sounds.
nhung doan chap chung: be at it! Be "chap chung." Rhythmic without a drum! don't be just...a train! you can do better!
Me, who am I to say? No career musician. don't need to be. just an audience member with high expectation for classical chorus and a lot of respect for you. enough respect to write this long commentary. DNN



YOUTUBE.COM

Sunday, November 6, 2022

Nhan dip Nhac Si Cung Tien nam xuong nam 2022....Am Nhac Hoc va cong dong nguoi Viet trong hay ngoai nuoc

 https://usvietnam.uoregon.edu/3419-2/


VĂN HÓA XÃ HỘI
Nhu cầu tiếng nói của người Việt cho ngành Âm nhạc học trong lòng quốc tế



Published on

1 Tháng Bảy, 2022

By Dương Như Nguyện




Dương Như Nguyện, 6/6/2022

Tôi kết thúc bài này sau khi được tin Nhạc sĩ Cung Tiến qua đời (1938-2022). Ông đã mang đến cho người Việt, trong đó có cá nhân và tuổi mới lớn cuả tôi ở Saigon, những thí dụ về cái đẹp của âm nhạc qua các bài hát art songs cuả ông từ thập niên 1950. Theo Phạm Văn Kỳ Thanh, ít nhất một tác giả đã gọi CT là thiên nga cuả âm nhạc Việt Nam. CT chịu ảnh hưởng nhạc cổ điển Tây Phương nhưng các sáng tác cuả ông nối kết Đông Tây. Các “thiên nga” ấy đi vào hồn Việt qua sự chọn lọc cuả quần chúng (Hương Xưa, Hoài Cảm, Nguyệt Cầm, Lệ Đá Xanh, Mắt Biếc, etc.). Nhạc sáng tác cuả ông sau 1975 đi song song với, hoậc ghi nhận lại, lịch sử văn học Việt Nam (bản dịch Hoàng Hạc Lâu-Vũ Hoàng Chương, Chinh Phụ Ngâm, thơ Thanh Tâm Tuyền).

Bài viết này có mục đích gợi ý về tầm quan trọng cuả các tiểu luận thuộc ngành “âm nhạc học” dưới dạng có thể phổ biến trong quần chúng, nhất là trong hoàn cảnh hiện đại cuả môi trường nói tiếng Việt.

Với bài viết này, tôi tha thiết muốn thấy khán thính giả Việt Nam và các cá nhân đoàn thể “hành nghề” âm nhạc bằng tiếng Việt bắt đầu chú ý đến môi trường và nhu cầu cần thiết cuả tiếng nói “âm nhạc học” cho xã hội nói tiếng Việt ở cả hai bên bờ đại dương.

Âm nhạc học

Ngành âm nhạc học – musicology — không phải là ngành học âm nhạc để sáng tác hay trình diễn. Ngành “âm nhạc học” khác với các ngành “học âm nhạc” (thí dụ: xử dụng các nhạc khí, hoà âm, phối khí, sáng tác, ca hát) hay việc “học âm nhạc” (Solfege/music theory, sight-reading, scales), dù rằng phải biết âm nhạc đủ thì mới có thể đi vào “âm nhạc học” tận tường.

Nói tổng quát, ngành âm nhạc học là bộ môn khảo cứu tất cả các vấn đề liên quan đến âm nhạc, trong tất cả các văn hoá trên thế giới và qua tất cả các giai đoạn lịch sử, trong đó dĩ nhiên có việc phân tích và đặt tiêu chuẩn thế nào là cái đẹp thẩm mỹ và tích cách xã hội cuả âm nhạc.

Bộ môn khảo cứu này có tính cách hàn lâm (scholarly and research-based), và là một khoa học trong đó có thể áp dụng cả khoa học thực nghiệm lẫn khoa học nhân văn xã hội. Hiện giờ, âm nhạc học chia ra thành ba ngành chuyên môn: Âm nhạc học dân tộc – ethnomusicology; hệ thống âm nhạc học – systematic musicology; và lịch sử âm nhạc học – historical musicology. Ngoài ba chuyên môn này, sinh viên và học giả có thể đưa các ngành nhân văn và khoa học thực nghiệm khác vào khảo cứu âm nhạc: từ toán học – computational science, qua đến tâm lý học và nhân loại học – psychology and anthropology. Các nhà biên khảo cũng có thể dùng âm nhạc học và lịch sử âm nhạc để phẩm định và phân tích các hiện tượng và chu trình tiến hóa hay thoái hoá của xã hội.

Làm cách nào để mang tiếng nói hàn lâm có tính cách khảo cứu ấy vào quần chúng qua dạng phổ thông?

Âm nhạc học giúp cho việc sáng tác và trình diễn, xác định chỗ đứng và sự phát triển cuả âm nhạc trong xã hội, đồng thời phân tích âm nhạc để nâng cao trình độ thưởng ngoạn cuả khán thính giả, giống như ngành phê bình văn chương giúp ích cho sự thưởng ngoạn và xác định chỗ đứng cuả văn chương.

Bài phân tích âm nhạc “Cung Tiến, từ Thu Vàng đến Hoàng Hạc Lâu” Phạm Văn Kỳ Thanh có thể nằm trong musicology. Phạm Văn Kỳ Thanh, một nhạc sĩ kiêm luật sư, cũng có viết một số bài khảo cứu về nhạc Phật trong lòng thế giới – chủ đề ấy cũng thuộc về phạm vi của âm nhạc học.

Ai có thể đi vào Âm nhạc học?

Ngành musicology được công nhận cho đến mức tiến sĩ tại các đại học. Theo tôi, ngành này thiên hình vạn trạng, có tính cách xuyên bộ môn, mà các học giả hay nghệ sĩ ở mọi ngành đều có thể tự học và nghiên cứu, nếu có đủ một số kiến thức căn bản trong âm nhạc.

Tôi là một cá nhân tự học musicology suốt trong thời gian làm một hình thức “post-JD fellowship” ở một đại học vùng Đông Bắc, và suốt thập niên dạy đại học ở vùng Rockies, tổng cộng ít nhất là 12 năm nghiên cứu và viết lách xuyên bộ môn, chưa nói đến thời gian tôi theo đuổi nghệ thuật trình diễn ở mức mà tôi cho rằng bán sơ khai, bán thời gian, vì thích, và để có cơ hội sáng tạo, diễn đạt, và biết nghệ sĩ trình diễn phải làm gì. Hơn thế nữa, như cố nhạc sĩ Cung Tiến đã nói (và tôi cố gắng theo như đã theo những bản nhạc xác định cái đẹp trong âm nhạc của ông): sống làm người tha thiết yêu âm nhạc, chứ chẳng phải coi âm nhạc là thứ tiêu khiển hobby cho qua thời giờ (trích từ một cuộc phỏng vấn trên sân khấu của Nguyễn Ngọc Ngạn dành cho Cung Tiến, được thu thành băng). Dù có thời gian theo đuổi như vậy, tôi đã đến bờ musicology chưa? Chưa đâu, vì tình yêu âm nhạc là trọn đời. Quãng đường tôi đi mới chỉ đủ để viết bài này, khi tôi thấy nhu cầu cho ngành này trong môi trường nói tiếng Việt cho người Việt.

Sự quan trọng của ngôn ngữ và tính chính xác của thuật ngữ trong ngành Âm nhạc học

Vì âm nhạc học là một ngành viết lách bằng chữ nghĩa chứ không phải bằng notes nhạc như sáng tác ca khúc hay tấu khúc, ngôn ngữ chữ viết rất quan trọng trong âm nhạc học. Do đó, trước hết tôi xin nhấn mạnh sự chính xác cuà ngôn ngữ trong ngành “âm nhạc học.”

Một thí dụ cụ thể: Tôi vừa mới dùng chữ Nhạc Sĩ theo nghĩa quần chúng phổ thông có tích cách tổng quát, generic, để nhắc đến Cung Tiến, nhằm giản dị hóa. Nhưng tác giả Hương-Xưa-Nguyệt-Cầm-Lệ-Đá-Xanh-Mắt–Biếc đúng nhất phải được gọi là “Nhà Soạn Nhạc,” composer, vì ông không hành nghề Nhạc Sĩ theo nghĩa nôm na bao giờ – ông không hát hay chơi đàn hàng ngày hay thường niên cho một dàn nhạc “orchestra” hoặc ban nhạc “band” trên sân khấu hay phòng trà nào cả. Ông cũng không làm nhạc bán lấy tiển sinh sống. Ông cũng chẳng xuất hiện trên sân khấu để điểu khiển dàn nhạc conductor làm chi, trừ lúc ông còn trẻ, sinh hoạt học đường cho trường Chu Văn An (theo hình cung cấp chung với bài phân tích cuả Phạm Văn Kỳ Thanh). Cung Tiến là một kinh tế gia, và thời trẻ, ông đã đi xuyên bộ môn nghệ thuật: từ viết lách, ngôn ngữ dịch thuật, đến âm nhạc. (Trong tận cùng sự việc, theo tôi soạn nhạc qua ký âm pháp và nghiên cứu kinh tế không tương phản hay công kích lẫn nhau.)

Dùng từ “Nhạc sĩ” để dịch “musician” thì có ý nghĩa chấp nhận được trong trường hợp cuả Cung Tiến. Xin lưu ý, có rất nhiều ca sĩ không bao giờ trở thành musicians cả. Họ chỉ là singers ca sĩ cho quần chúng hay vocalists người hát trong âm nhạc mà thôi. Nhưng trong trường hợp của đại danh ca sân khấu nhạc kich cổ điển opera cuả thế kỷ hai mươi, Bà Maria Callas: trên thế giới, rất nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp và trưởng dàn nhạc cổ điển, những người điều khiển dàn nhạc, conductors, phải công nhận Bà Callas là musician, nhạc sĩ, vì khả năng và trình độ âm nhạc vượt bực cuả bà.

Và dĩ nhiên có nhiều nhạc sĩ đại tài không cần học nhạc hay ký âm pháp vì họ “hành nghề” theo năng khiếu tai nghe, và việc ký âm pháp có thể đưa cho “nhạc sĩ hàn lâm” viết xuống, hoặc bây giờ là qua Trí tuệ Nhân tạo, computers, artificial intelligence, thí dụ, Charlie Chaplin, Rezso Seress. Cũng có nhiều nhạc sĩ làm “nhạc sĩ” có thể đến mức “chuyên nghiệp” mà không “theo đuổi nghệ thuật,” cũng không thấy “theo đuổi” ấy là cần thiết.

Kế tiếp, tôi phải nhắc một thí dụ khác, liên quan đến vấn đề dịch văn chương khào cứu. Vì âm nhạc học có tính cách quốc tế, và ký âm pháp cũng như lịch sử âm nhạc Tây Phương đã trở thành khuôn thước thông dụng cho âm nhạc, ngôn ngữ âm nhạc Tây phương cần được chuyển hóa qua tiếng Việt trong các câu chuyện âm nhạc.

Ở khía cạnh này, theo tôi, khái niệm “chuyển ngữ” không chính xác bằng “dịch thuật”. Khái niệm “chuyển ngữ” có nghĩa quá hẹp, không chuyên chở được chu trình dịch thuật. Trong dịch thuật, phải có sự thay đổi cả “ngữ” – diction; ngôn –parole; và ngôn ngữ – language; không thể chỉ có “chuyển” phần từ “ngữ” diction của ngôn ngữ language mà thôi. Trong chữ Hán, khác với “thuật” 述 trong “tường thuật” /narrate, chữ “thuật” 術 trong “dịch thuật” mang nghĩa “nghệ thuật”. “Dịch” là khái niệm biểu đạt sự luân chuyển, thay đổi hình thái. Trong chu trình “dịch thuật 譯術 translation” phải có sự “đáp ứng” ý nghĩa theo sát bản chính trong ngôn ngữ gốc, nhưng lại phải có sự luân lưu, biến chuyển để phù hợp với ngôn ngữ dịch.

Tôi e rằng trong gẩn nửa thế kỷ vừa qua, ờ môi trường tiếng Việt, sự chân chính, sát nghĩa và rộng nghĩa của ngôn từ, ngôn ngữ, cho đến lịch sử ngôn từ, etymology, cũng đã bị thoái hoá, ngay trong địa hạt danh từ và ngôn ngữ hoặc các khái niệm chuyên môn khác. Ngành âm-nhạc-học chỉ là một thí dụ.

“Thông tin” lại là một từ ngữ nữa mà tôi thấy đã dùng sai trong nửa thế kỷ, sai trong căn bản ngôn ngữ học Việt Nam, nhưng ai cũng dùng theo “nhà chức trách có thẩm quyền” quyết định đời sống dân – các “quan chức, cán bộ,” hay người dân từ ngoài Bắc vào sau biến cố 1975, có vai trò chủ động đời sống sau 1975, cho nên các chữ dùng sai trở thành đúng vì số đông, rồi đi vào văn bản, hay học đường.

Thế nào là theo đuổi nghệ thuật?

Có chuyên môn Musicology có phải là việc theo đuổi nghệ thuật không? Không nhất thiết việc theo đuổi nghệ thuật phải qua dạng trình diễn hay sáng tạo trực tiếp. Thí dụ cụ thể: ngay chính tôi. Là con nhà giáo thanh bạch ở Việt Nam, không phải “con ông cháu cha tiền rừng bạc bể,” và thuộc lớp người di dân đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam, qua Mỹ trở thành một phụ nữ đi học, đi làm để độc lập không phụ thuộc vào ai, tôi không có điều kiện để đi làm “nghệ sĩ” toàn thời gian, mà cũng chẳng muốn phải “hy sinh” cá tính, bản ngã của mình cho sự theo đuổi nghệ thuật ấy. Theo tôi, theo đuổi nghệ thuật đích thực nhất phải được định nghĩa là lòng yêu thích và tinh thần nghiêm túc – a serious calling – chứ không chỉ là nghề đi kiếm tiền. Theo đuổi nghệ thuật là một chu trình cả đời dù với dạng nào, ít hay nhiều đi chăng nữa, không phải vì kiếm cơm, làm giàu, hay tìm danh, mà phải là theo đuổi ở một mức tiêu chuẩn tối thiểu nào đó, mức ấy được nền tảng lưu truyền công nhận đó là tiêu chuẩn ắt có, mà có thể chưa đủ. (Hình như cố nhạc sĩ Cung Tiến có nói rằng theo đuổi âm nhạc phải là “ongoing” (trích từ một cuộc phỏng vấn Cung Tiến).

Với định nghĩa trên đây, thì đi theo “Thuý Nga Paris entertainment” trình diễn kiếm tiền chỉ là theo đuổi cách “làm nghệ thuật” của Thúy Nga Paris cho người nói tiếng Việt xem, để được nổi tiếng trong môi trường ấy mà thôi. Tôi cũng chưa hề quen biết các em gốc Việt nào theo đuổi ngành múa, kịch, phim, hay nhạc ở Mỹ toàn thời gian để tốt nghiệp, với mục đích đi vào chương trình Thuý Nga để kiếm tiền cả. Tôi cũng không cho rằng đi Hollywood hay được lên dĩa hát “Sony” là theo đuổi “nghệ thuật.”

Ngược lại, một cá nhân học nhạc hay có khiếu từ bé, đam mê từ bé, và theo đuổi học hỏi cho dù không kiếm ra tiền, không lên sân khấu, đối với tôi lại là một cá nhân theo đuổi nghệ thuật. Cụ thể hơn: học piano suốt đời để trở thành concert pianist dù có hay không có giải thưởng hay việc làm, cũng vẫn là theo đuổi nghệ thuật. Học hát luôn luôn và trau luyện cả đời để trở thành ca sĩ opera có thể được tuyển chọn trình diễn trên sân khấu đại nhạc kịch cổ điển là theo đuổi nghệ thuật. (Các nghệ sĩ opera hiến trọn cuộc đời rất nhiều hy sinh và kỷ luật luyện tập khắt khe, không kiếm nhiều tiền như pop artists, tức những nghệ sĩ phổ thông phục vụ thị hiếu cuả trào lưu.)

Nhạc sĩ Cung Tiến là thí dụ của một cá nhân theo đuổi âm nhạc nghệ thuật để phục vụ cội nguồn cuả mình cho dù ông sáng tác theo Tây Phương, mang làn gió cuả nhạc cổ điển Tây Phương vào ca khúc Việt Nam sau thời tiền chiến đầu thế kỷ 20; rồi ở Mỹ, ông quay lại lịch sử / văn học sử dân tộc và dân ca/cổ nhạc Việt Nam bằng ký âm pháp Tây Phương.

Có một cái gì đó hiển nhiên rất đáng kính phục ở một cá nhân say mê và có khiếu âm nhạc từ tuổi nhỏ, lớn lên phải theo đuổi kiến thức để tìm chỗ đứng độc lập về kinh tế trong xã hội qua các học bổng đi du học Tây Phương ở một ngành khác cũng khó khăn không kém nghệ thuật sáng tạo, rồi lai cưu mang sinh kế độc lập qua việc làm trí thức trong dòng chính của xã hội Mỹ — là một người di dân trong dòng chính, trên cả hai con đường: nghệ thuật sáng tạo cũng như môi trường kinh tế phi-nghệ-thuật-sáng-tạo. Có nghĩa là suốt đời: sự say mê nghệ thuật trở thành đời sống thứ hai, buổi tối và cuối tuần hay lúc đã về hưu, hướng vể nguồn cội, với sự hỗ trợ và hy sinh của cá nhân, gia đình và phối ngẫu, để bắt đầu cuộc hành trình Tây Phương, nhưng lại hướng về Đông Phương và kết hợp Đông Tây để cuối đời, trong kiếp di dân, đem cổ nhạc và văn học sử Việt Nam vào dòng chính nước Mỹ. Đó là tấm gương “sao Khuê” của nhạc sĩ/nhà soạn nhạc/công chức kinh tế gia Cung Tiến. Vì thế, theo tôi, ông là tấm gương “theo đuổi nghệ thuật” cho tuổi trẻ Việt Nam.

Thế nhưng, không nhất thiết phải đi vào âm nhạc cổ điển Tây Phương hay hoàn toàn đứng trong cổ nhạc Việt Nam, hay phải làm sao kết hợp cả hai, mới là theo đuổi nghệ thuật.

Định nghĩa tự nó có tính cách mơ hồ, vì nghệ thuật và cái đẹp là cái gì được nhìn thấy, nghe thấy để cảm nhận. Không hẳn dựa trên cái gì đám đông thích, vì… còn tuỳ theo đám đông.

Quay lại musicology.

Ở đây, tôi chỉ dám đặt vấn đề rằng: sau nửa thế kỷ, thiếu gì người Việt hay gốc Việt là “nghệ sĩ chuyên môn” hay “nghiệp dư” đã hay đang “theo đuổi nghệ thuật” — họ có thể nhận định phân tích âm nhạc, theo đuổi musicology, bằng tiếng Việt, nhất là khi họ có kinh nghiệm khảo cứu, scholarly research.

Vì thế, theo tôi, musicology có thể coi như một hình thức theo đuổi nghệ thuật qua tiến trình nghiên cứu, diễn giải, và diễn tả, cũng như thực hành.

Như tôi đã nói ngay từ đầu, hình thức này đòi hỏi nghệ thuật và kỹ thuật ngôn ngữ, chứ không phải chỉ notes nhạc và ký âm pháp music theory mà thôi. Ngoài lý thuyết và thực hành âm nhạc, musicology đòi hỏi nghiên cứu khoa học và viết lách. Đây là một ngành có thể trở thành xuyên bộ môn, interdisciplinary: liên quan trực tiếp đến lịch sử, triết thuyết phê bỉnh, ngôn ngữ học, văn hoá và nhân loại học. Ngay cả chính trị học và y khoa cũng gây ảnh hưởng hoặc liên quan đến âm nhạc học.

Một ví dụ điển hình và thực tiễn về nhu cầu khảo cứu Âm nhạc học cho người Việt hay người gốc Việt

Môi trường website Da Màu có giới thiệu bài của một bà giáo sư Mỹ viết và phân tích về sự góp mặt cuả người Á Đông trong các cuộc thi dương cầm thế giới. Bài viết có thể được coi là thuộc về musicology hay xuyên bộ môn. Theo tiểu sử, bà là research professor của một đại học Mỹ, về Asian/American Studies thì phải, và là tay dương cầm nghiệp dư. “Profile” tương tự với bà giáo sư này có thể tìm ngay ở người Việt và người gốc Việt. Vấn đề là họ có để thì giờ viết, và viết tiếng Việt hay không mà thôi.

Nói tóm lại, người Việt và người gốc Việt có thể viết bài nhận định về sự có mặt cuả người Á Châu trong lãnh vực âm nhạc, thay vì chỉ dịch bài cuả bà Giáo Sư nọ, nhất là khi người Việt hay gốc Việt có thể dựa trên kinh nghiệm “cây nhà lá vườn” với “trailblazer” Đặng Thái Sơn, thêm vào đó, sản phẩm quốc nội của Việt Nam CHXHCN là Đặng Vỉ̃nh Phúc, hay các nghệ sĩ Việt Nam sáng tác hoặc trình diễn khác, kể cả Nhà-Soạn-Nhạc “thiên nga” của miền Nam, Cung Tiến. Người Việt có thể viết bài nhìn lại cuộc “viễn chinh,” “du học” và “giao lưu” giữa người Việt với thế giới âm nhạc cổ đíển Tây Phương, từ thế kỷ hai mươi, khởi đầu từ giáo dục Pháp ở Đông Dương, hoặc đối chiếu cuộc “viễn chinh” ấy với sự phát triển của cổ nhạc Việt Nam. Chính cuộc đời yêu mến âm nhạc cuả nhạc sĩ Cung Tiến đã minh chứng điều này.

Sau đây là lý do đơn giản tại sao việc dịch thuật bài viết về musicology cuả các học giả Tây Phương theo tôi là thứ yếu, mà việc sáng tác nghị luận biên khảo cuả người Việt mới là chủ yếu: Hiện nay Việt Nam có rất nhiều người viết đọc tiếng Anh. Vai trò “chuyển ngữ” bớt cẩn thiết.

Vì thế, cần có những bài khảo cứu ngắn, cuả chính học giả Việt, hoặc gốc Việt, được phổ biến, nhất là trong địa hạt có mãnh lực ảnh hưởng ở tầm quốc tế qua trực giác, như âm nhạc vả ngay cả hội họa.

Từ khảo cứu âm nhạc bắt qua đến các vấn đề xã hội khác bằng chu trình “liên tưởng” affiliation: Vấn để bà giáo sư nọ đã nêu — người Á Châu ngày càng xuất hiện ở nhiều bộ môn khắp nơi — đã xầy ra không phải chỉ ở địa hạt âm nhạc thi đua thế giới, mà còn ở ngay môi trường hàn lâm, academia, các công ty kỹ thuật, một số các ngành ở Mỹ hay các nước định cư của người Việt, ngay cả việc học hành tại các khuôn viên campus như đại học Harvard cuả Mỹ chẳng hạn: bây giờ khuôn mặt Á Đông xuất hiện rất nhiều. Thế nhưng tình trạng kỳ thị Á Đông vẫn còn, ở những tình huống tinh vi nhất. Các vụ án chống kỳ thị vẫn có, mà chưa bao giờ đủ, trái lại càng ngày càng kém con số đi, vì các bộ luật dân quyền, nhân quyền ở Mỹ (Civil Rights Act, Alien Torts Claims Act) gần như bị vô hiệu hóa trong khía cạnh tranh đấu cá nhân, và, tuy rằng các tổ chức tranh đấu ở Mỹ — advocacy — vẫn đặt vấn đề kỳ thị, nhưng trời ơi, vẫn không nâng cao tỷ số các vụ án kỳ thị đi đến thành công. Lấy một thí dụ khác: các tổ chức tranh đấu cho tiếng nói người Châu Á vẫn cho rằng ngay chính đại học Harvard đã kỳ thị chủng tộc khi họ áp dụng những gì có tính cách hạn chế người Á trong sự tuyển chọn và điều kiện nhập học tại Harvard.

Vậy thì các bài khảo cứu hay phân tích âm nhạc không nhất thiết chỉ ngừng hay thu hẹp ở âm nhạc: thí dụ, chủ đề về các cuộc thi tuyển dương cầm quốc tế, như đã được dịch và đăng trên tạp chí Da Màu. Các cuộc thi tuyển cho thấy cái gì khác, không liên quan trực tiếp đến âm nhạc, hoặc giả chính là hậu quả chỗ đứng dành cho âm nhạc trong lòng “tháp ngà” cuả tiêu chuẩn cái đẹp, hay trong “xưởng máy” cuả quần chúng? Âm nhạc là một phần cuả sự luân chuyển xã hội, và phản ảnh xã hội, trào lưu, vân vân.

Những bài viết nhận định như thế, nếu viết bởi học giả người Việt hay gốc Việt sẽ có giá trị “critical thinking” cho quần chúng Việt – sự suy diễn phê bình bao quát, cân bằng, chứ không phải chỉ là phổ biến tài liệu, qua hình thức dịch thuật các bài nghị luận viết bởi các tác giả Tây phương hay những ai đứng ngoài cộng đồng người Việt/gốc Việt.

Musicologists – các nhà âm nhạc học: ai là “học giả” Âm nhạc học và ai là độc giả?

Các đại học Mỹ đều có chương trình huấn luyện hay cấp bằng chuyên môn về bộ môn khảo cứu âm nhạc học. Ở đây, tôi lại xin nhấn mạnh sự quan trọng cuả địa hạt ngôn ngữ trong âm nhạc học tiếng Việt. Ai thật tình có khả năng chuyên môn và áp dụng ̣đúng đắn chu trình khảo cứu, lại có khả năng ngôn ngữ ở trình độ chuyên môn để dùng hay dịch chữ chuyên môn âm nhạc cho đúng và̉ chuyên chất? Tôi xin đưa vài thí dụ trong việc dùng ngôn từ bất trách.

Một người đứng ra nhận định và phê bình thơ văn thì không thể “diễn giải” ý nghĩa cuà̉ việc “chơi chữ” hay “lồng ý” bằng cách “chuyển ngữ” chữ “paraphrase” trong tiếng Anh thành chữ “đạo thơ” hay “bắt chước thơ” được. (Viết như thế gây tác dụng mạ lỵ phỉ báng (defamation) có thể bị kiện ra toà civil hay bị phạt criminal, tuỳ theo quốc gia). “Paraphrase” không có nghĩa là đạo thơ (plagiarism).

Theo tôi, nhà nghiên cứu hay người viết bài không thể nói cố nhạc sĩ Cung Tiến đã “phổ nhạc” bài thơ Nguyệt Cầm cuả Xuân Diệu. Cung Tiến chỉ lấy ý thơ và tựa đề mà thôi. Nhưng có thể gọi Nguyệt Cầm là art song, nhạc nghệ thuật, dịch sát nghiã là “thơ phổ nhạc” trong âm nhạc cổ điển Tây phương. Nhưng khi dùng thuật ngữ tiếng Việt thì không thể nói “Cung Tiến “phổ nhạc” thơ Xuân Diệu được, như Phạm Duy “phổ nhạc” tho Huy Cận (thí dụ: bài Ngậm Ngùi). Một cách dịch chữ “art song” là “nhạc nghệ thuật hoạ thơ” hoặc “phỏng thơ,” nếu nhà soạn nhạc không theo sát từng chữ cuả bài thơ mà viết lại, chỉ theo dòng nhạc dựa trên ý bài thơ.

Không thể dịch chữ voice trong độc tấu piano có nghĩa là “tiếng hát” – vocal. Cùng lắm thì dịch là “giọng,” “dòng,” hay “giai điệu” (nhưng nên hiểu sự liên đới và̉ tương đồng giữa ngành thanh nhạc – vocal art, sự khởi thuỷ cuả âm nhạc trong lịch sử con người — với lịch sử phát triển sáng tạo và kỹ thuật “fugues” do J.S. Bach đưa vào việc ông sáng tác nhiều dòng nhạc khác nhau, dành cho các nhạc cụ hay giọng hát con người khác nhau, chạy đuổi theo nhau chẳng hạn, tiêu biểu cho giai đoạn baroque trong lịch sử nhạc cổ điển Tây Phương. Phải hiểu “voice” với nghĩa xuyên bộ môn như thế, thì mới có thể lý luận thấu đáo về các “dòng nhạc” trong một trường ca trình diễn bởi ca đoàn, một bản sáng tác theo thề điệu “fugues,” hoặc một bản độc tấu dương cầm – đàn dương cầm dùng mười ngón tay, tức là có thể tạo nên nhiều dòng hay nhiều “giọng” khác nhau: polyphonic.

Cũng không thể dịch chữ “legato” “crescendo” “diminuendo” etc. là các “kỹ thuật thanh nhạc” được, trong một bài nghị luận, khảo cứu, hay cuộc bàn cãi vể âm nhạc. Việc diễn đạt legato, crescendo, diminuendo, etc. chính là một phần cuả musicality –nhạc tính, có nghĩa là tính chất, nội dung cuả âm nhạc sáng tạo, được nhà soạn nhạc ghi lại, chú giải, chứ không phải chỉ là kỹ thuật ca hát ca sĩ có hứng là làm.

Định nghĩa “nhạc bolero” và “nhạc thính phòng” (chamber music) cũng cần được xét lại và tái xác định cho môi trường nhạc Việt, vì quần chúng Việt hiện nay không dùng các cụm từ này theo nghĩa chung, chính thống cuà Tây Phương hay quốc tế. Tây Phương và quốc tế là nơi xuất phát các từ ngữ về nhịp điệu Boléro và chamber music, chứ không phải Việt Nam. Bây giờ nếu một nước xa xôi nào đó nghe vọng cổ Việt Nam rồi dùng chữ “vongco” đề nói về cái gì đó không còn là vọng cổ Việt nữa, thì chúng ta nghĩ thế nào?

Cốt lõi cuả nhận định phê bì̀nh văn học nghệ thuật, nói chung, và viết lách về ngành musicology, nói riêng, đòi hỏi sáng tạo cũng như sự xét lại tầm nhìn và cách nhìn — sự khác biệt giữa môi trường âm nhạc hàn lâm và quần chúng, mang thêm lý luận khảo cứu và sự cẩn trọng — việc công nhận hoặc phủ nhận các lý thuyết, hay đưa ra các lý thuyét mới, theses, bằng luận lý và minh chứng, như một khoa học gia của ngành nhân văn xã hội. Hay ít nhất cũng là tác giả một “op-ed,” editorial (bài bày tỏ ý kiến cho báo chí), nhưng musicology đòi hỏi phải có tính cách công phu và công bằng hơn về khảo cứu, chứ không thể chỉ đưa ý kiến suông mà thôi.

Hiện tại, các bài khảo cứu âm nhạc của Tây phương đều nằm trong các tạp chí khảo cứu âm nhạc, liên đới đến các phân khoa cấp bẳng cử nhân, cao học, tiến sĩ âm nhạc học cuả các đại học bốn năm. Như vậy thì quần chúng chẳng được hấp thụ hay tiếp cận với âm nhạc học ở mức phổ thông à?

Thế thì phải nghĩ đến tình trạng hiện nay: những tích cực và tiêu cực của thế giới truyền thông: việc phổ thông hoá kiến thức chuyên môn bằng ngôn ngữ dễ hiểu và ngắn gọn hơn “luận án” đại học. Người chọn bài và chủ trương cuả các websites uy tín có thể nhận định khách quan. Nhưng, một vấn đề khác lại hiện ra: đâu là các websites uy tín, hay rút cục chỉ là một chân trời “monopoly” có hệ thống — một tình trạng độc quyền trong sự xô bồ, “hỗn tạp pí lù” của mạng lưới internet?

“Học giả” là một trạng thái, acquired status, không nhất thiết là bằng cấp giấy tờ. Tư cách học giả sẽ đến ngay từ nội dung và hình thức bài viết, ngoài việc bỏ thi giờ đi học cho có “bằng cấp giấy tờ” minh chứng trước người đọc. Lại một vấn đề kế tiếp: Người đọc là ai, trong khi thế giới có tầm mắt của một đám đông chỉ “liếc” trên internet, ở môi trường kém giá trị khảo cứu của photoshop và ngay cả Wiki, etc., hoặc ở các websites hay youtube, cãi nhau ỏm tỏi, có khi văng tục chửi rủa xong rồi biến mất dưới tên nặc danh –một hình thức khủng bố của tin tặc?

Sự cần thiết của Âm nhạc học: Tiêu chuẩn cho cái đẹp và lợi ích xã hội của âm nhạc

Quay trở lại với ngành “âm nhạc học” (musicology) để tạm kết thúc.

Tại sao tôi cho rằng tiếng nói cuả Âm Nhạc Học (viết hoa) quan trọng và cần thiết cho người Việt trong lúc này?

Để trả lời, tôi xin trích từ phần abstract (tóm tắt) của một bài khảo cứu về Âm Nhạc Học mang tưạ đề “Vai Trò cuả Nhà Âm Nhạc Học trong Xã Hội Phi Châu, Thế Kỷ 21,” được luân lưu trên mạng lưới, đăng tải ở tạp chí khảo cứu African Research Review, vol.9, No.2. Bài viết này nêu lên vấn đề giá trị nghệ thuật – tiêu chuẩn cho cái đẹp — và vai trò xã hội của âm nhạc trong văn hoá Phi-Châu, tiêu biểu cho lục địa “thế giới thứ ba” của thế kỷ hai mươi. Bài viết cuả nhà nghiên cứu âm nhạc SN Nwoba có tác động cổ võ việc quay về với cái đẹp cố hữu cuả âm nhạc, tính chất thuần tuý cuà âm nhạc, ngay cả tính chất thẩm mỹ cao nhất cuả dân tộc, thay vì đi theo những phá cách ỳ trệ làm sụp đổ nền tảng và làm mất đi tính hữu ích cuả âm nhạc:

Vai trò lãnh đạo của một nhà âm nhạc học ở Châu Phi thế kỷ 21

SN Nwoba

Tóm tắt

Ở châu Phi thế kỷ 21 này, hầu hết các loại hình âm nhạc ngày nay – hip hop, rap, dub-step, v.v. đều không phù hợp và có ngôn ngữ thô tục. Những cái ấy không dẫn mọi người đến đúng nơi cần đến. Những đánh giá phê bình về âm nhạc như vậy cho thấy chúng vô nghĩa (nhạc không có ý nghĩa – bài hát dở, giọng hát tệ, thông điệp kém, v.v.). Nhận thức về âm nhạc và sự đánh giá của chúng ta ngày nay không dựa trên giá trị âm nhạc thực sự mà dựa trên hoạt động tiếp thị thương mại nặng nề, thường làm sai lệch đánh giá phê bình về âm nhạc trên các nguồn báo chí, đài phát thanh và truyền hình. Chắc chắn nhạc dở không phải được tạo ra bởi các nhà soạn nhạc có năng lực cả về lý thuyết và thực hành mà là bởi các nhạc sĩ chưa qua đào tạo, kiểu “nhạc sĩ lang băm.”

Bài báo này xem xét vai trò lãnh đạo của nhà âm nhạc học ở châu Phi thế kỷ 21 và [người ta] phát hiện ra rằng nhà âm nhạc học (nhà soạn nhạc, nhà nghiên cứu lịch sử [âm nhạc], nhà lý luận âm nhạc, nghệ sĩ biểu diễn, v.v.) như một thành viên của một xã hội, một lương tâm xã hội và cơ quan giám sát, biểu hiện vai trò lãnh đạo to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm cả [hệ thống] chính trị (trong chính phủ).

Người ấy có chức năng như một nhà phê bình xã hội, một nhà sử học, một nhân chứng xã hội và người ghi chép các sự kiện. Người ấy có chức năng vận động xã hội, ổn định xã hội, kiểm soát xã hội và đối ngoại. Là một nhà tiên tri của xã hội, người ấy định hướng và chuyển hướng tâm trí của mọi người, dẫn dắt mọi người đi đúng hướng.

Người ta hy vọng rằng bài báo này sẽ mở mang đầu óc và tâm hồn của mọi người để đi theo những cái đúng, thông qua âm nhạc phù hợp, mà khi kiểu loại âm nhạc đó được thừa nhận về mặt giá trị, sẽ trở thành loại âm nhạc có giá trị to lớn đối với xã hội châu Phi chúng ta.

Bài báo khuyến nghị rằng các nhạc sĩ chưa được đào tạo nên sử dụng sức mạnh âm nhạc của họ trong bối cảnh phù hợp và không truyền những thuật ngữ và âm nhạc vô nghĩa.

Tóm lại, cho người Việt / gốc Việt chúng ta, viết về âm nhạc có thể mở rộng khung trời khảo cứu cho tất cả những ai biết nhạc, yêu nhạc, biết nhìn vào cấu trúc và lịch sử âm nhạc, cũng như sự áp dụng kỹ thuật lý luận cuả chu trình khảo cứu dùng trong các bộ môn nhân văn xã hội, social sciences and the humanities. Musicology là ngành khảo cứu luân lưu sinh động — fluid, nhưng không phải là ngành nghệ thuật trình diễn, dù rằng các musicologists nên là nghệ sĩ trình diễn ở một khía cạnh nào đó, để thấu hiểu chu trình “trình diễn,” “diễ̉n tả, “diễn giải,” và “diễn đạt” các tác phẩm sáng tạo trong bộ môn bao la là âm nhạc, như lời đệ nhất danh ca đai nhạc kịch cổ điển operatic cuả thế kỷ hai mươi, bà Maria Callas: “music is enormous” (“âm nhạc thật vĩ đại.”)

Kính dâng bài tuỳ bút này cho hương hồn thân phụ, GS ngữ học/nhà giáo song ngữ Dương Đức Nhự (1934-2019), và cố Nhạc sỹ Cung Tiến (1938-2022). Cả hai đều là cựu Học Giả British Council, Việt Nam Cộng Hòa, và dịch giả tác phẩm của Dostoevsky. Cả hai đều yêu thi ca âm nhạc trọn đời nhưng lại sinh sống bằng nghề nghiệp hoạt động trí thức khác.

DNN © June 2022







Saturday, June 4, 2022

In memory of South Vietnam's most talented and unique composer who combined East and West

He brought classical tonal music to South Vietnam's modern art songs, and more. 

My modest tribute to him, from more than 15 years ago



:  



Monday, May 9, 2022

TRIBUTE TO Thanh Tâm Tuyền's Lệ ̣Đá Xanh -- Dương Như Nguyện's Crying Green Jade


The Listener, Forest of Memory, and Wall of Oppression
enamels on grained paper and digitual infusion
(c) UND 2010

ABOUT LE DA XANH, “CRYING GREEN JADE”: A tribute to Thanh Tam Tuyen, South Vietnamese poet and novelist (1936-2006)
(c) dnn May 10 2022

***~~~***

BIOGRAPHICAL NOTE ON THANH TAM TUYEN: Thanh Tam Tuyen (acronymed “TTT”) was a refugee from North Vietnam in 1954, right after the Geneva Convention divided Vietnam into two zones: communist North versus non-communist South.

TTT (meaning “Pure Ebony of the Art”) is the pen name of Dzu Van Tam, co-founder of the literary and cultural magazine Sang Tao (“Creativity”) in South Vietnam. (The word “Tuyen” can also mean “a stream,” so the pen name TTT can also mean “Stream from the Pure Heart”).

With this magazine as his “literary child,” TTT started the “free verse” movement in South Vietnam in the 1960s, thereby transforming Vietnamese poetry for the later half of the 20th Century, at least in the South. He also wrote novels and essays, conveying refreshing philosophical themes and a new literary style, which I consider to be ground-breaking for his generation in South Vietnam, during his time as well as thereafter. An eloquent teacher, TTT was well admired by, not only readers of his work and poetry but also generations of his students.

Following the fall of Saigon in 1975, he was sent to a "reeducation camp" by the winners of the Vietnam War. After years of hard labor and imprisonment, TTT immigrated to the U.S. as part of the Reagan-Bush Administration’s “HO” program, and settled in Minnesota, where he lived a quiet, secluded life until his death in 2006.

Among TTT’s most famous “free verse” poems is Le Da Xanh, which I subjectively translated as “Crying Green Jade” (see Appendix 1). Le Da Xanh was set to music by two of South Vietnam’s best known songwriters, Cung Tien and Pham Dinh Chuong (i.e., two separate songs). Both musicians were South Vietnamese refugees who settled in the U.S. after 1975.

In my opinion, the version composed by Cung Tien (“CT”) (see Appendix 2), in particular, bears certain characteristics of, and influence from, the impressionistic and melancholic nature of the early 20th Century’s Romantic (or post-Romantic) composers of the West such as Debussy and Satie, although the tonal nature of Cung Tien’s composition remains intact (contrasting against what was pioneered as atonal trends in the West, but not yet introduced to, pre-1975 South Vietnam).

The following personal essay is based on what Le Da Xanh, the poem and the song, means to me -- that which inspires me to write.

___________________


ABOUT LE DA XANH: MY CRYING GREEN JADE

Both Uta Hagen and Lee Strasberg will agree, and so will Maria Callas who thinks of herself as the servant of music: performing artists, whether in the vocal art or drama, must reach deep down in their soul and find something at the core of their existence to rely on, in order to express. That's the private sphere of the artist's soul, to be given to that which he/she expresses...

Everybody whom I knew from the imperial city of Hue knew that my maternal grandmother was among Hue's most beautiful women.

Grandma wore a jade bracelet all her life. It became greener and greener as she aged.

Memory of childhood in Vietnam often got me back to those nights in Hue, when Grandma held me in her arms, and I felt asleep. Nighttime in Hue could be cold and rainy, but she kept me warm.

In the middle of the night, often I woke up and felt something cold: It was a pleasant cold, smooth and pure, from a dainty object, like a slender, polished cut of stone on which I could lean and rest my cheek.

It was her jade bracelet, of course, pressed against one side of my face. I felt asleep again, her breath over the top of my head filtered down and warmed up her jade bracelet, I was sure. But the cold lingered on, on my cheek, like a cold thread of silk, piercing through the warmth of her breath.

I felt safe in that pleasant cold, my pleasant cold, isolated in all that warmth to anchor me.

***
But then I felt something else.

A wet tear must have smeared onto her jade bracelet. I felt it.

Was the jade crying, or was it Grandma?

Childhood's deep sleep took over always, those nights in Hue.

My little self was not burdened by the weight of thoughts, so I never knew for sure where the tear came from.

́́́***

Her jade bracelet was passed on to me. I wore it on the night I stepped on the C130 cargo plane at Tan Son Nhat airport.

Onto America. Without Grandma. I was forced to forget.

Yet the jade bracelet became a perpetual piece of jewelry. It spoke of who I am and where I came from.

At times I forgot that it was on my wrist.

One day at the University's Recreation Center, I went swimming and was doing the backstroke. The goal was: if I learned music and chose a writing career, I had to learn physical education to achieve balance.

In that one swim, like destiny, I felt so distinctively that my wrist had hit the wall of the swimming pool, as my arm reached over my head to push myself ahead, darting on in all that Clorox-smelling water.

I couldn't hear any sound of breakage in all that water, but I knew something had happened. Instinctively I turned myself into a somersault, dived down without preparation, and looked deep in that water. I saw the bracelet, broken in half. The two halves were falling down, separately like two entities. The two pieces would never find each other again.

And then in all that Clorox-smelling water, I felt Grandma around me. I felt the coldness of the dainty cut of stone pressing onto my cheek. I was safe against that pleasant coldness, upon which I relied. Upon that cut of smooth stone I leaned.

I felt, too, the one tear that wetted my cheek as though it were parting the water to become its own space.

The jade was tearing, or Grandma was tearing.

The jade bracelet that defined me was gone, broken into two halves, falling down and down and down, separated from me forever, into that bottomless Clorox-smelling mass of engulfing water...

America.

***

The swimming instructor said that day I almost drowned.

But somehow before she could jump in to help, I had gotten myself back up. I emerged from that water by myself, and got off the swimming pool.

I can't remember what happened next.

Part of me blamed America for the loss of the bracelet. Part of me blamed myself.

***
In my own American womanhood, I finally learned that Grandma's Vietnamese life (1910-1979) had enough events hidden in her heart to cause her tears. Events of her family. Events of her Hue, and events of the whole country. That which made the jade greener and greener as she aged. That which caused the one tear I felt on that jade circling her wrist, in my dormant Vietnamese childhood.

I came to learn the silence of that one tear. The silence of green jade. The silence of Grandma's heart.

The silence of my loss in America.

***

And that was what the performing artist in me would rely on, in delivering Cung Tiens' Le Da Xanh. To myself.

All I need was the coldness of the cut of stone resting against my cheek, upon which I relied, one night in Hue.

So I don't need the orchestra. Please dismiss it and make my stage simple. Please give me that one tear in the sound of your lonely guitar that speaks to me the silence of Grandma's green jade.

The solitude of the green jade that cried.

The solitude of Grandma's heart that cried.

The solitude of her Hue night that cried.

The solitude of that one tear I felt in the tenderness of Grandma's arms.

The solitude of my stage.

The one tear on stage this night speaks of my loss, and of Grandma's sufferings and all the secrets she bore. What was buried in her heart.

Her Vietnam.

That one tear, unspoken, yet spoken, like the delicate notes -- half tones and whole tones -- to circle into the words they become. Worn upon a Vietnamese woman's wrist, pressed against her forehead, her cheekbone, and then her heart.

Thank you, CT and TTT.

(c)DNN 5/7/2022

______________________

APPENDIX 1: translation/interpretation

Lệ đá xanh – Crying Green Jade

BY © THANH TAM TUYEN
ENGLISH INTERPRETATION: ©Wendy Nicole Duong Nhu-Nguyen 5/9/22

Note from Interpreter: “Crying Rocks” are literary motifs and images found in American contemporary literature based on American Indian folklores and heritage.

In contrast, concepts of an age-old rock that holds memory of tales through thousands of years as witness of life events and history were part of the foundation for ancient China’s epic novel/metafiction, Hong Lau Mong (Dream of the Red Chamber).

In Vietnam’s classical heritage, the personification of rocks and waters became literary symbol of the culture. For example: “Da van tro gan cung tue nguyet, nuoc con cau mat voi tang thuong” (Rocks sustained their internals against wear-and-tear from the test of time; water frowned at life’s upheavals that transformed seas into berry fields), quoting Ba Huyen Thanh Quan, Vietnamese poetess, 19th Century.

TTT transposed these ancient concepts into modernity, as birth (or rebirth) of a new (or rejuvenated) literary motif. Unique to his free verses, Le Da Xanh reflects the silenced psychic pain of his generation in absorbing loss, despair, and disillusion.

I chose the phrase “Crying Green Jade” to interpret the title, because it was the only phrase I could think of, which denotes and combines two different semantic possibilities drawn from TTT’s original language:

1) Tears themselves become green jade, i.e. the poet cries and his tears turn into green jade; or

2) Tears are held in the poet’s heart, so the heart cries but tears are withheld within, meaning the palpitating heart is crystalized or solidified into green jade.

Both concepts are metamorphosis that only poeticism can project.

I have also added English words that denote silenced or suppressed pain -- the poet’s tender heart becomes the reservoir of tears, symbolizing the inner strength of endurance.

In contrast to Red as the color of blood, a “heat” symbol standing for Life, TTT spoke of Blue as either sapphire blue or emerald green, a “cool” tone in the visual art, signifying coolness or coldness, denoting solitude or lonely efforts at rejuvenation following losses, sufferings, or bloodshed – the hope of Art.

I chose “jade” as my interpretation because of its cultural meaning -- ornament associated with the Vietnamese female motif and image of femininity.

However, to interpret TTT’s poem as relating only to a couple’s love is to belittle the poet’s philosophical temperament and message about Vietnam’s pre-destined sufferings, found in his written works. Le Da Xanh also reflects the largesse of his soul and thoughts – he spoke of sufferings as fatalism, which I construe to mean the image of a Vietnamese Sisyphus. There, TTT spoke clearly of the larger scope: Le Da Xanh…oi nhung nguoi khoc le loi mot minh -- Tears from those who cry alone… (In his later poems composed during his “re-education camp” imprisonment, TTT described the silent heroism of political prisoners in drawing their strength from a glimpse at springtime outside their cells, during forced labor. This serves as comparison to, and contrast against, Beethoven’s heroism and musical reverberation in deafness -- testament of the human spirit against adversity).

I have also added English words to TTT’s reference to Christianity as the European addition to Vietnamese collective epistemology: concept of the testing, seductive Apple displayed to suffering humankind by a creator-God. This point is significant to me because it shows the poet’s humanity, as well as his enduring belief in free will and love as part of such humanity – the poet is not an atheist like his indoctrinated North Vietnamese Marxist counterpart.

Le Da Xanh is a short and seemingly simple poem, yet packed with images, philosophical ideas, and overwhelming emotions, cast into the best form of Vietnamese abstractionism. This is also my goal, as I use my instinct to put forth the English interpretation in the simplest form of the English language.

I chose this poem because I think it speaks of the cultural and artistic life of South Vietnam as part of early nation-building, for which TTT was a symbol as well as an important witness of history. The musical form has made the poem last, as it is being sung in Vietnam today (see Appendix 2).

I must dedicate this essay and interpretation to my late father, who introduced TTT’s work to me when I was just a child in Vietnam. I believe my father authored the only published literary critique of TTTs famous novel, Dọc Đường (On the Road). Ref. Dương Đức Nhự, “Đọc Dọc Đường cuả̉ Thanh Tâm Tuyển” (“Upon Reading ‘On the Road’ by Thanh Tam Tuyen”) ̣ (1960's). Published in literary journals of South Vietnam, my father’s critique was not archived, and hence, can no longer be located after 1975.

©DNN Mother’s Day, 5/9/2022

~~~***~~~

CRYING GREEN JADE

Bilingual texts, Vietnamese origin ©TTT and English interpretation ©WND

tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

I know of those who cry alone,

non-stop

Those whose tears never roll out of their heart

Don’t you know

tears are green jade

from a heart that wilts


đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ còn trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối


Yes sometimes I want to believe

out there life still holds those stars of significance

‘cause next to them your eyes still sparkle

till our last moment

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của thượng đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu


Sometimes I want to believe

out there life still emanates the intoxicating fragrance of God’s fruits

And next to them, the sweet taste of your lips,

our honey milky way of origin


đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái


Sometimes I want to believe

out there life’s full of wild flowers’ purity

And next to them, the lure of your arms,

our circle of love


đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi


Sometimes I want to believe

those who cry alone

feel their tears held within

muffled,

pained like green jade

from a heart that wilts



Green jade,

Oh crying green jade,

from a heart that wilts

DNN ©May 8, 2022


APPENDIX 2:  Amateur performance of the song, in Vietnam, 2022

Below in this youtube link is what I consider to be the best performance of the song Le Da Xanh written by Cung Tien, coming out of today’s Vietnam:



https://www.youtube.com/watch?v=VmbM78PwUEU

Cung Tien’s Le Da Xanh, based on TTT’s poem, performed in Qui Nhon, Vietnam, 2022, by Dam Ha and Dieu Nhan.

See comment by Giang Huong Goodwin as a member of the “internet audience.”

Fair use exception to copyright

______




The versions appearing in the comments section by Anonymous show the flexibility and richness of the Vietnamese language, as TTT's original poem was altered.  These versions should NEVER  be circulated independently or claimed authorship as such, without TTT's original text, because such independent circulation can be challenged as "plagiarism," an ethical concern. The intent, character, and integrity of those who made such alternations are directly at issue.  

Pham Dinh Chuong's version created in 1970-ish Saigon, on the other hand, was his own creation, based on the idea and symbolism expressed in TTT's original text, a form of idea/symbol inspirational transgression (in Vietnamese: "lay y tho").   Such adaptation "lay y tho" had the approval of the original author and was circulated in South Vietnam and abroad as such.   

~~~***~~~

FIRST VERSION: Thanh Tam Tuyen's original, Music by Cung Tien 1957 (English translation/interpretation and personal essay 60+ years later, 2022, by Duong Nhu Nguyen; musical performance by Dieu Nhan and Dam Nha, in Vietnam 2022)

SECOND VERSION:  inspirational: Nua Hon Thuong Dau, music and lyrics by Pham Dinh Chuong, 1970s

Thursday, April 14, 2022

My Vietnamese childhood and teenage days: From Vietnamese poetry recitals to Chopin and then Joni Mitchell

 Both sides now, and the circle game.  

Yes, that was part of my teenage days in Saigon, pre-1975.  There was a young, teenage Chinese actress who sang Joni Mitchell's Circle Game to me in a Chinese movie. 

Our house was near a cinema theater named Rap chieu bong Thanh Van, duong Le van Duyet Saigon gan cho Hoa Hung.  

Joni was so down-to-earth and sincere and expressive and meaningful.  She delivered songs of the heart: those beautiful notes and symbolic words, typifying the musical soul of contemporary America in transition: the latter half of the 20th century: the civil rights movement, the Vietnam War, assassinations, hippies and beatniks, bell-bottom pants and long-sleeved T-shirts, dancing a gogo, etc. 

Yes, all those did get to a free South Vietnam, pre-1975. There was the countryside burnt with warfare, and divisiveness of the people, but there was also the hope of the middle-class...


 



Tuesday, April 12, 2022

Is she Vietnamese? This Paris-based opera singer, Ms. Le Van (now in the U.S.)


Please check her out:  

http://www.solenelevan.net/newspage

http://www.solenelevan.net/newspage

 I have listened to her sing.  She is the real thing. Operatic.  I can't say with conviction whether she sang her heart out, with soulful expression that touches people or that people understand her art, but she expressed the music, the text and the role -- what an opera singer should do in the repertoire.   AND, SHE DOES NOT NEED A MICROPHONE!  HER TRAINED VOICE, VERY PROPERLY USED, ROSE ABOVE THE ORCHESTRA. 

This is legitimately an opera singer. She appeared in roles with opera companies and on recital/operatic stage. 

In my work, life, and travels, I have met and listened to many real Vietnam-born classical and opera singers, including counter-tenors and dramatic sopranos.  Or, they are of Vietnamese descent either by their father or mother.  I have also known of Vietnam-born ballet dancers and modern dancers (members of the American Dance Company).  

While practicing law full time with major law firms, billing 2200 hours a years, and as a prosecutor for the U.S. government, I myself took up ballet, classical singing, musical theater,  operatic voice training, and appeared in American productions as a young adult, within 5 years after the fall of Saigon and going forward until age 42 (1999).  I just never had enough time to practice except when I auditioned or was cast.  In those incidents, I took leaves of absence without pay from work to do the art. 

Naturally I remain an amateur who only did what I could or enjoyed.  But, I can recognize performing art professionals when I see and watch them.  I can assess because I absorbed knowledge and learning from the places where I have been, no matter how short and often under great challenges because a person only has 24 hours a day and can only do so much. 

I become a better person.     


Wednesday, December 15, 2021

v/D nganh hoc va nganh khao cuu MUSICOLOGY


 


·       wendy duong says:

THE NEEDS FOR VIETNAMESE MUSICOLOGISTS EITHER DEGREED OR SELF-TAUGHT:

Tại sao lại phải chuyển ngữ tư tường người khác mà không viết ngay nhận xé̃t âm nhạc cuả học giả hay nhạc sĩ/nghệ sĩ Việt Nam? Ngành musicology thiên hình vạn trạng và là một ngành có tính cách xuyên bộ môn, mà các học giả mọi ngành có thể tự học. Chính tôi đây là một cá nhân tự học musicology suốt trong thời gian fellowship ở một đại học miền Bấc, và suốt thập niên dạy ở vùng Rockies. Thiếu gì người VN là “nghệ sĩ nghiệp dư” như tôi có thể nhận định v/d âm nhạc, hay hơn tôi rất nhiều, nhất là khi họ có kinh nghiệm khảo cứu ̣– scholarly research.

Bà giáo sư viết bài trên đây là research professor cuả một đại học Mỹ, về Asian / American studies thì phải, và là tay dương cầm nghiệp dư. Profile này có thể tìm ngay ở người Việt và người gốc Việt.

Thay vì làm người dị́ch, tại sao kh̀ông viết luôn bài nhận định, dưa trên kinh nghiệm “cây nhà lá vườn” với trailblazer Dang Thai Sơn và thêm vào đó, sản phẩm quốc nội cuả VNCHXHCN lả Đặng Vỉ̃nh Phúc. Lý do: hiện nay VN có rất nhiều người viết đọc tiếng Anh. Vai trò “chuyển ngữ” bớt cẩn thiết.

Tôi đề nghị Da Màu bắt đầu nhìn đến, ngay cả “solicit,” những bài khảo cứu ngắn, cuả chính học giả Việt, gốc Việt, nhất là trong nhử̃ng địa hạt có mảnh lực quốc tế qua trực giác như âm nhạc. V/d người Á Châu xuất hiện nhiều không phải chỉ ờ ăm nhạc thi đua thế giới mà còn ngay cả ở academia một số các ngành ở Mỹ, các công ty kỹ thuật, ngành thự́c phẩm / tiêm ăn, ngay ở campus đại học Harvard chẳng hạn, etc.etc. thế nhưng tình trạng kỷ thị Á Đông vẫn còn, ở những tì̉nh huống tinh vi nhất. Các vụ án vẩn có, các tổ chức tranh đấu vẫn đăt v/d — thí dụ cho rằng đại học Harvard vẫn kỳ thị chủng tộc khi áp dụng nhử̃ng gì có tính cách hạn chế người Á, etc.etc. Những bài viết như vậy sẽ có giá trị “critical thinking” cân bằng nhiều hơn là phổ biến “thông tin” qua hình thức dịch thuật. V/d: Ai là “học giả” để viết đây? DM có thể nhận định khách quan. “Học giả” là một trạng thái, acquired status, không nhất thiết là bằng cấp giấy tờ. Tư cách học giả sẽ đến ngay từ nội dung bài viết.

Viết về ăm nhạc có thể mờ rộng cho tất cả những ai biết nhạc, yêu nhạc, và biết khảo cứu. Musicology là ngành sinh động, không phải là ngành trình diễn.

cám ơn. DNN

oAnh Thảo says:

6 December 2021 at 7:52 pm

Góp ý với Wendy Duong:
Tôi rất cám ơn nhà văn Trần Thị NgH. đã bỏ công sức và thời gian để dịch thuật các truyện ngắn và các bài viết về đề tài âm nhạc cho những người không rành tiếng Anh như tôi đây.
Nhà văn Trần Thị NgH. muốn viết hay dịch gì thì đó là quyết định của bà ấy. Phổ biến thông tin bằng dịch thuật là một việc nên làm.
Nếu WD cho rằng dịch thuật không cần thiết thì chắc là WD biết tất cả mọi thứ tiếng trên đời?
Tôi cũng mong là sẽ được đọc những bài về musicology của WD viết để được học hỏi thêm về kiến thức âm nhạc của WD.

Trả lời »

§  wendy duong says:

Your comment is awaiting moderation. This is a preview; your comment will be visible after it has been approved.

16 December 2021 at 1:57 am

đÚNG VẬY. Ông/Bà có thể viết những gi Ô/B muốn, tôi cũng thế, và người dịch nào đó muốn dịch cái gì thì dịch, va DM muốn đăng cái gì thì đăng. Đó là tự do ngôn luận. Tiêu chuẩn cuả tự do ngôn luận theo tôi, một người có chuyên môn báo chí, là CÔNG BẰ̀NG, QUÂN BẰNG, VÀ SỰTHẬ́t.

 

 Ô/Bà muốn đp̣c cuả tôi thì lên mạng lưới hoặc mua sách, đa số là tiếng Anh, ký tên khác nhau, các bộ môn khác nhau. Có bài có thể cho rằng thuộc về musicology bằng tiếng Việt, Ô/B cứ tự nhiên tìm đọc không tốn tiền, nhưng sẻ có những bài tốn tiền hay có độc giả có chuyên môn, trong môi trường chuyên môn. Tôi không có thì giờ viết tiếng Việt nhiều. thông cà̉m. Ô/B muốn hỏi gì, cứ hỏi. Tôi sẻ cho email. Tôi không có nhiề̀u thì giờ để viết cho quý vị đọc. Tôi chỉ có thể vắn tắt. Cái gì tôi không biết, tôi sẻ̃ cho source để tự tìm hiểu.

 

Tôi không hề nói “dịch thuuật” không cần thiết. Như thế, Ô/B cần ̣đọc lại cho kỹ những gì tôi nói, trước khi Ô/B lên tiếng. Sở dĩ tôi trả lời vì tôi thấy Ô/B đọc không kỹ và hình như không hiểu ý tôi. Từ một cái nhìn sai lầm đi đến một câu hỏi sai lầm: Tôi có biết mọi thứ tiếng ờ trên đời? Không ai biết mọi thứ tiếng ờ trên đời mà cũng chẳng có ai đọc được bản dịch dù mọi thứ tiếng ờ trên đời, chưa kể đến cổ ngữ như Latin, old Greek, và…chữ Nôm. Vậy hỏi làm gì? Tốn giấy mực và công đánh máy chăng? Đó là một câu hỏi có tính cách phê phán theo kiểu passive-aggressive? Mà phê phán đặt không đúng chỗ. Có người nói phê phán không đúng chỗ là ác ý.

 

V/đ đọc về musicology: tôi thấy nên đọc vì kiến thức, và không nên đọc để phê phán về người viết. Nếu có ý kiến, thì viết luôn về musicology cho người khác đọc bằng tiếng Việt, khỏi cần ai dịch. Đó là một trong những chủ đề qua comment cuả tôi. B̀ài tôi viết về THE NEEDS FOR VIETNAMESE MUSICOLOGISTS ETC. bằng tíếng Việt hình như đang chờ Da Màu và vài tạp chí về VN nưã. Hoặc sẽ đăng ngay trong tạp chí cuả tôi nay mai.

 

Theo tôi, bài cuả bà GS người Mỹ thiếu sót và phiến diện, như tôi nêu lên trong bài t̀ôi viết ̣hình như chưa đâng. Nếu là tôi, tôi không chọn dịch bài đó. Người VN nên viết thằng một bài sau khi nghiên cứu v/d tạo ra bởi cuộc tranh tài ờ Warsaw cuả DTSơn nhiều thập niên và tìm hiểu những gì đã xẩy ra cho những nhân tố đó. Cũng như nghiên cứu về mọi v/d liên quan đến khuôn mặt người châu Á thay vì chỉ nhìn vào ăm nhạc và nên có sự so sánh đối chiếu với âm nhạc là môi trường không cần ngôn ngữ.

 

Theo tôi thấy, Ô/B không nên tìm đọc một tác giả mà Ông/Bà cho rằng t́ác giả ấy gọi dịch thuật không cần thiết, hay tự cho rằng tác giả ấy biết mọi thứ tiếng ờ trên đời. Ô/B lấy ý này ờ đâu ra? Hay là ai đặt ý đó vào đâu óc? Tôi cũng không nên trả lới ṃột độc giả mang khái niệm như vậy sau khi đọc comment của tôi. Tôi sẽ không tham dự cuộc đối thoại nữa v̀ì không có mục đích ích lợi. Tôi chỉ muốn xác đ̣inh rằng Ô/B đọc lời tôi viết như vậy là không đúng, và những gì Ô/B nói là tóm tắt sai chủ đề cuả tôi, để không có sự đánh lạc hướng cho nhử̃ng độc giả ngoài kia theo dõi comment cuả tôi.

 

Tôi xin đề nghị: toàn cầu hóa đã xầy ra quá lâu rồi, Ô/B nên bỏ thì giờ học tiếng Anh, một ng̀ôn ngử quốc tế, ̣để khỏi tuỳ thuộc vào dịch giả quá nhiều. Và để đối chiếu. Nhưng trước khi học ngoạ́i ngữ, nên đọc tiếng Việt để lấy ý cho đúng ̣– cái học phổ thông qua trường lớp cân bản cho đ̣ọc và viết nghị luận.

WND/DNN